Pages

Friday, May 17, 2013

Nhật Nhĩ Man Khazar











Chủ nghĩa dân tộc do thái


Do Thái là một hiện tượng đáng được xem xét vì nó liên quan đến một tôn giáo cổ xưa nhất trong lịch sử loài người (Do Thái Giáo – Judaism), đồng thời nó cũng gắn liền với những xu hướng điển hình trong thế kỷ 20: di dân, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa dân tộc.

Do thái giáo:

Xưa kia những người Hebrew cho rằng họ đều là con cháu của Abraham, một nhà tiên tri được sinh ra vào thế kỷ 17 trước công nguyên. Người Hebrew khi đó sau khi thoát khỏi cảnh giam cầm của đế quốc Babylon theo Abraham đến vùng đất bờ biển phía đông Địa trung hải để tìm nơi cư trú và lập một tôn giáo mới cho người Hebrew. Con trai của Abraham là Isaak, và cháu là Jacob đều là những người kế nghiệp Abraham khai sinh và truyền bá đạo Do Thái. Theo chân Jacob người Hebrew đến Ai cập, nhưng sau đó bị đối xử như những nô lệ, để rồi 250 năm sau một lãnh tụ tên là Mose đưa họ quay lại vùng đất mà Abraham đã từng tiên tri là vùng đất Chúa dành riêng cho con cháu ông. Sau này khi người Hebrew lớn mạnh họ lại bị chia làm hai nước, Israel và Juda. David là vua của Israel nổi tiếng bởi tài quân sự và được coi là người có công xây thành Jerusalem (khoảng 1100 tr CN) và thống nhất dân tộc Do Thái. Cũng từ đó người Do Thái mang biểu tượng của David với ngôi sao 6 cánh.

Đạo Do Thái cổ xuất hiện rất sớm và nó được coi là nguồn gốc của Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Cả ba đạo này đều tin vào kinh cựu ước, một trong những cuốn sách cổ xưa nhất của loài người và đều cho rằng chúa chỉ có một, Jehova (Allah) chúa của muôn loài. Tương đương với hình ảnh chúa Jesu, đạo Do Thái thờ Mose như là ông tổ của đạo.

Di cư và làm giầu:
Có nguồn gốc từ dân du mục được gắn bó bằng niềm tin tôn giáo, người Do Thái di cư và cư trú rất nhiều quốc gia khác nhau, đông nhất là ở Bắc Mỹ (6,5tr), thứ nhì ở Israel (4,7tr) và ở các nước EU (2,3tr). Điều đáng chú ý là suốt 4000 năm tồn tại số lượng người dân Do Thái không thay đổi nhiều, dù sống đan xen với các tôn giáo khác.

Trong cuốn Torah , cuốn kinh thánh quan trọng nhất của tôn giáo này, mô tả những cuộc di dân vĩ đại của người Do Thái về miền đất thánh. Khi đó họ chỉ là những nô lệ cho đế quốc Babylon hoặc cho các hoàng đế Ai cập. Trên mảnh đất mà ngày nay gọi là Palestine, có thành Jerusalem, là nơi xuất phát của nhiều tôn giáo. Người Do Thái tin rằng đó chính là mảnh đất mà Chúa đã hứa là sẽ tặng riêng cho họ, từ đó người Do Thái gọi là miền đất hứa. Lịch sử cũng có ghi lại những vị vua của quốc vương Do Thái từng cai trị tại đó. Thế nhưng đây cũng là nơi mà đạo Kito và đạo Islam cũng coi là mảnh đất thiêng của họ. Vì thế mà có 7 cuộc thập tự chinh của những người Thiên chúa giáo giải phóng cho miền đất thánh. Và ngày nay người Hồi giáo cũng không muốn nhường mảnh đất này hoàn toàn cho người Do Thái. Chiến tranh tôn giáo liên miên làm người Do Thái phải phân tán khắp nơi, tuy nhiên tôn giáo này vẫn duy trì được những truyền thống riêng để rồi sau này tồn tại như một dân tộc.

Từ thế kỷ 15 người Do Thái di cư sang châu Âu, họ xuất hiện nhiều đặc biệt ở phần đông Âu (Balan, Nga), rồi chuyển dần sang tây Âu vào thế kỷ 18. Tôn giáo này cố gắng chịu tồn tại xen kẽ với các tôn giáo khác mà không gây xung đột - sensible and tolerant, họ cũng bắt đầu chấp nhận cả những người không cùng chủng tộc trong sinh hoạt tôn giáo. Có cả những người Do Thái có nguồn gốc Nga, Đức, Nhật... Gần như họ đã hoà nhập vào cuộc sống tại châu Âu trong khi chỉ còn lưu giữ chung một niềm tin tôn giáo. Như vậy người Do Thái tồn tại trong xã hội châu Âu có hai mặt, họ tồn tại được nhờ tiếp cận được văn hoá châu Âu (thời phục hưng và kỷ nguyên ánh sáng), đồng thời luôn có đời sống riêng của cộng đồng dựa trên đức tin vào Do Thái Giáo.

Dân Do thái làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Mới đầu họ làm nghề thủ công và làm nông nghiệp. Đáng chú ý là người Do thái thường thành công trong việc làm giầu, nhất là khi họ chuyển sang thương mại, mở cửa hàng buôn bán. Sau này khi châu Âu phát triển công nghiệp những nhà tư bản gốc Do thái chiếm một phần đáng kể. Tất nhiên đi đôi với tích luỹ tư bản bao giờ cũng bị mang tiếng là tham lam, ky cóp và bóc lột. Sự thành công của người Do Thái trong làm ăn buôn bán lại làm cho họ lại bị xua đuổi. Ở Nga năm 1881, chế độ Nga Hoàng có chính sách xua đuổi người Do Thái vì thế gây ra hàng loạt vụ giết người Do Thái. Chính vì sự kỳ thị này mà bác sĩ Leon Pinsker đã viết cuốn "Autoemanzipation" -tự giải phóng, xuất bản ở Odessa-1882 để lên tiếng bảo vệ người Do Thái. Pinsker cũng được coi là người đầu tiên của phong trào Zionism - phong trào phục quốc Do Thái. Năm 1892 người Pháp kết tội một số nhà tư bản Do Thái là nguyên nhân phá sản của công ty Panama-kanal, đẩy nước Pháp vào khủng hoảng kinh tế. Năm 1894 Dreyfus, một người gốc Do Thái, bị kiện ra toà án sử tội phạm chiến tranh. Vụ Dreyfusaffair này làm dấy lên phong trào Antisemitism - phong trào bài Do Thái. Mặc dù Dreyfus sau này được minh oan nhưng giường như ngọn lửa tức giận đã bùng lên và không thể dập tắt được nữa. Người Do Thái bị lên án ở khắp châu Âu. Đặc biệt ở Đức, dưới chế độ Hitler tháng 11 năm 1938 được gọi dưới cái tên Novemberpogrom, hàng loạt cửa hàng, tài sản của người Do Thái bị đập phá. Sau những vụ này người Do Thái di cư phần lớn sang Mỹ , một số ít sang Canada và Argentina. Những gì diễn ra tiếp theo trong chiến tranh thế giới thứ 2 thì không nói mọi người cũng đã biết.

Sau khi thành lập nhà nước Israel năm 1948 trên mảnh đất Palestine, người Do Thái kêu gọi nhau về xây dựng đất nước, họ lại lục đục kéo về. Nhưng trước sự chống phá của người Hồi giáo làm cho cuộc sống trở lên bất ổn một số người Do Thái lại tìm cách ra đi. So với các sắc dân thiểu số di cư khác thì người Do Thái là người thành công nhất trên thương trường cũng như trong chính trị.

Từ việc di dân của người Do Thái có thể rút ra kết luận là: Tôn giáo và văn hoá nói chung có thể tồn tại đan xen, nhưng cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn trước khi đi đến hoà giải. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự di dân sẽ còn diễn ra mạnh mẽ hơn nữa, nó sẽ làm nảy sinh các vấn đề văn hoá xã hội phức tạp còn khó khăn hơn cả những gì đã diễn ra với người Do Thái.

Zionism: (Zion là tên một ngôi đền Do thái)

Phong trào phục quốc Do thái xuất hiện trên quan điểm cho rằng người Do thái ở châu Âu bị thiệt thòi trong các mâu thuẫn với các dân tộc khác bởi do không có một nhà nước bảo vệ họ. Nhà văn người Áo, Theodor Herzl, chính thức đưa ra quan điểm này năm 1896 với tác phẩm "Nhà nước Do thái". Một năm sau, 1897, hội nghị đầu tiên được tổ chức tại Basel đưa ra tuyên bố kêu gọi thành lập nhà nước Israel trên mảnh đất Palestine. Đồng thời kêu gọi tất cả những người Do thái trở về xây dựng quốc gia. Năm 1909 ra đời thành phố đầu tiên cho người Do thái, thành phố Tel Aviv. Trước chiến tranh thế giới thứ nhất người Do thái chỉ chiếm 10% dân số ở Palestine. Tuy nhiên con số này tăng lên nhanh chóng, dần gây ra mâu thuẫn với người Arập đang sống tại đó. Cùng với phong trào Zionism, ở châu Âu xuất hiện phong trào Antisemistism chính là nhằm chống đối lại. Hai phong trào này gần như cân bằng cho đến khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra. Người Đức tưởng họ dứt điểm được Zionism, nhưng đâu ngờ họ chính là nguyên nhân sâu xa của việc ra đời nhà nước Israel vào năm 1948. Người ta không nghi ngờ gì là ngưòi Do Thái quá thiệt thòi do không có nhà nước riêng bảo vệ họ. Liên hiệp quốc, khi nó mới được thành lập, cũng không ngờ hậu hoạ của một quyết định mang đầy tính nhân đạo lại biến trung đông thành lò lửa chiến tranh tôn giáo. Sự ra đời của nhà nước Israel còn phải kể đến đóng góp của Anh, Mỹ và Vatican.

Phong trào zionism xuất hiện trong thập kỷ 19-20, là thập kỷ của những phong trào quốc tế, cho ta thấy chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vẫn còn đang đan xen lẫn nhau, cả hai đều có lúc dâng lên rồi chìm xuống, chưa biết sẽ ngã ngũ ra sao trong thế kỷ 21.

Sunday, February 3, 2013

Chúng ta học được kinh nghiệm nào trong cuộc chíến Gaza? (Lê Hùng Bruxelles)



Chúng ta học được kinh nghiệm nào trong cuộc chíến Gaza? (Lê Hùng Bruxelles)


Địa dư chính trị giữa Gaza và Do Thái.

Dảy đất Gaza phía đông giáp biển Địa Trung hải, phiá bắc và phía tây bọc bởi Do Thái, chỉ còn phiá Nam một đường biên giới dài 15 cây số tiếp liền với Ai Cập. Theo hiệp ước năm 2005, Israel ký kết với nhà lãnh đạo Palestine là tổng thống dân cử Mahmoud Abbas, dưới sự giám sát của Liên Âu, sống chung hoà bình, thì Gaza xem như kinh đô chính trị của người Palestine. Nhưng sau cuộc bầu cử năm 2006, tổ chức Hamas thắng đưa Ismail Hamiyel lên làm thủ tướng, thì ông này liền đuổi tổ chức ôn hoà Fatah do tổng thống dân cử Mahmoud Abbas ra khỏi Gaza, và dành quyền cai trị.

Hamas là sản phẩm phong trào giải phóng Palestine (OLP) do Arafat đề xướng từ năm 1959, còn gọi là Fatah. Đây là một tổ chức Hồi giáo cực đoan, chỉ muốn áp dụng chiến thuật khủng bố thời Arafat đối với Do Thái, cương quyết nuôi dưởng tinh thần tuẫn đạo, chỉ có những kẻ chết vì đạo Hồi mới là anh hùng.

Từ năm 1965, Arafat đã thành công xách động người Palestine nổi dậy (intifada) chống trả Do Thái và mãi dến năm 1994, trở thành vị lãnh đạo chính thức Palestine trong khuôn khổ pháp luật được thế giới công nhận. Những cuộc ám sát, khủng bố dân Do Thái do ông tổ chức trước đây, không những không bị thế giới lên án, mà lại còn có giải thưởng Nobel!. Vì vậy, người dân Palestine rất dễ tin rằng chiến thuật liều mạng, ôm bom xung kích theo văn hoá Arafat là hiệu nghiệm nhất. Sau này các chiến lược gia vùng Trung đông và Cận đông đã đoán nhầm về sức mạnh vũ khí và chiến thuật quân sự của Do Thái cũng chỉ vì loại văn hoá liều mạng nầy.

Nguyên nhân gây chiến.

Cuộc sống của người Palestine rất nghèo khổ, nên dân cư ngụ vùng phía nam Gaza thường tìm cách băng qua Ai Cập buôn lậu. Suốt dọc theo biên giới Ai Cập, mà Do Thái gọi là hành lang Philadelphie, một số con buôn đầu cơ thuê đào đường hầm cở vừa cho một người có thể chui qua lãnh thổ Ai Cập, để chuyên chở những hàng hoá thuốc men và đồ quốc cấm về bán lại cho dân Palestine.

Vào những năm 2003 –2005, sau lúc chính quyền Do Thái di tản số người Do Thái ra khỏi vùng Sinai, tổ chức Hamas cho đào thêm nhiếu đường hầm chiến lược, lo chuyên chở vũ khí và đạn dược từ Ai Cập vào Gaza. Khi quân đội Do Thái khám phá nhiều đường hầm xây cất bằng xi măng, có trang bị đèn và đường dây điện thoại tiếp cận giữa hai bên, ở giữa có con đường rầy dành riêng cho một loại xe nội hoá chuyễn vủ khí đạn dược. Ngay tại các cửa ra vào đường hầm chính quyền Hamas còn thiết bị hoá trang những máy radar cảnh báo cho biết người qua lại để đề phòng. Thấy nguy, chính quyền Do Thái liền cho phong tỏa suốt dảy hành lang biên giới Philadelphie để chận đường vủ khí của Hamas.

Cuộc phong toả nầy chẳng khác nào như chính quyền Do Thái đang chặn hơi thở người Palestine. Vì vậy, qua ngày 26/12/2008, chính quyền thủ tướng Ismail Hamiyel, bất tuân lệnh hưu chiến, cho dân quân bắn nghi binh vào phía Bắc đất Do Thái 80 qủa súng cối và roquette. Song song với hành động này, ông Khaled Mechaal, cố vấn chính trị Hamas, trên đài truyền hình tại Damas, lên tiếng và cho thế giới biết rằng đây là cuộc nổi dậy lần thứ ba của dân tộc Palestine.(lần nhất ngày 9/12/87, lần nhì ngày 29/12/200).

Sáng hôm sau, để trả đủa Hamas, chính quyền Do Thái phát lệnh chiến dịch « Plomb Durci » với lý do chận đứng việc bắn phá của Hamas vào lãnh thổ Israel. Trận chiến bắt đầu và ngày càng bi thảm, Đến nay, quân đội Do Thái cho biết đã phá trên 225 đường hầm. Tuy nhiên, số đường hầm vẫn không tài nào phá sạch nổi. Trước đây, tháng 1/2002, dưới thời bộ trường quốc phòng, Binyamin Ben Eliezer, đã ra lệnh phá nát tất cả nhà cửa vùng Rafah nghi ngờ có cửa ra vào các đường hầm. Chỉ trong một đêm hàng trăm nhà cửa trên 15km dọc theo hành lang Philadelphie bị xe ủi đất cào nát. Nhưng sau khi quân đội quay lưng, thì mọi đường hầm vẫn về nguyên trạng. Qua kinh nghiệm, Bà Tzipi Livni, bộ trưởng ngoại giao tuyên bố rằng chính phủ Do Thái bắt buộc quân sự hoá hành lang Philadelphie cốt để tiêu diệt tổ chức Hamas.

Đêm ngày bầu trời Palestine đã đỏ rực ánh sáng bom đạn. Ngoài biển đại bác rót vào. Trên trời bom rớt xuống. Dọc đất liền xe bọc sắt mở đường cho bộ binh Do Thái tràn tới. Hơn 3 tuần nhật, 1300 người Palestine chết, không kể số khác bị thương. Người lớn thiếu cơm. Trẻ con thiếu sữa. Tiếp tế bị chận đường. Thế giới lên án Do Thái. Liên Âu và LHQ đã đứng ra can thiệp. Trung Đông cũng đã dự vào.

Tổ chức Hamas muốn chạy làng, nhưng Do Thái cứ gỉa vờ tai điếc! Chính quyền Olmert tiếp tục ra lệnh quân đội Tsahal tiến vào thủ đô Gaza. Có lý nào môt nước bé nhỏ như Do Thái, quốc gia lại bị bao bịt tứ bề bởi môt số quốc gia Hôi Giáo, -trong đó đáng kể là Iran đã từng hăm dọa quét DoThái ra khỏi bản đồ thế giới-, vẫn im thinh thít trước hành động xem như hỗn xược nầy!. Tại sao? Đây cũng là một kinh nghiệm cho người Việt chúng ta suy gẫm về tương lai Đất Nước.

Sức mạnh vũ khí của Do Thái hiện tại.

Thế giới đang phân vân những loại vũ khí mà quân đội Do Thái đang dùng có một hiệu năng khủng khiếp, chưa có một quân đội nào dùng tại các nước vùng Trung đông từ trước đến nay. Tờ Le Monde cho biết  hai y sĩ trong tổ chức ONG Na Uy phục vụ tại bệnh viện Al-Chifa nói rằng họ không tìm thấy những nạn nhân bị cháy bởi phosphore trắng như các bás sĩ Palestine đã tuyên bố, cũng chẳng phải bị loại bom nổ chậm như loại Do Thái đã dùng ở Liban năm 2006 . Nhưng sau khi khám nghiệm nhiều xác nạn nhân họ có lý để nghĩ rằng quân đội Do Thái đang dùng một loại vũ khí mới, mà các chuyên viên quân sự Mỹ gọi tắt là Dime (Dense Inert Metal Explosive).

Loại vũ khí nầy được đem ra trắc nghiệm từ năm 2004, là một loại bom (un explosif) bắn ra một hổn hợp nổ (mélange de matière explosive) tung ra những hạt sợi carbone. Thuốc súng được trộn với kim loại nặng và tungstène, tạo ra sức công phá rầt mạnh trong khoảng cách vài thước, và sẽ rất yếu khi mục tiêu quá 10 thước. Cách 2 thước thì nạn nhân bị cắt làm đôi, Cách 8 thước thì chân bị thiến và cháy đen như hàng ngàn mủi kim cắm vào. Tóm tắt, đây là loại vũ khí dùng giết người lúc tập trung hay hội họp. Nạn nhân thường bị xuất huyết mà bác sĩ thì không thể nào xác tính được vị trí nơi máu chảy ra. Mặt khác, còn có tin rằng hiện tại Do Thái đang dự trử bom nguyên tử, nên các nước anh em Hồi Giáo có phản ứng rất yếu ớt.      

Điểm đáng chú ý là chính quyền Do Thái, bất cứ chính quyền nào, đều đặt nặng sinh mạng của người dân lên hàng đầu. Họ sẳn sàng hành động bất cứ điều gì miễn sao đức tin của người Do Thái được bảo đảm. Đức tin của người Do Thái là dân tộc họ, chỉ có dân tộc Do Thái, sẽ sống lại vĩnh viễn như Chúa đã loan truyền. Nhờ vậy, mọi chi phí về bảo vệ sinh mạng của người lính ngày càng chăm sóc kỷ càng. Chính phù không cần lo lắng sự đóng góp của người dân Do Thái. Chẳng hạn, chiến xa Merkava trước đây đã dùng trên chiến trường Liban năm 2006, nay đã thay đổi hoàn toàn để nâng cao an ninh cho binh sĩ. Muốn vậy, họ chuyễn đầu máy xe của tất cả chiến xa ra phía trước, và lớp sắt bọc xe dày hơn. Trên xe cho trang bị một loại radar để khám phá roquette của địch bắn đến. Khi roquette của địch bắn tới, máy radar trên xe tự động điều khiễn trong vòng 5 giây cho nổ một trái phá, tạo ra một bức tường sắt vụn ngăn cản không cho đạn đạo roquette đi qua.


Khả năng chiến đấu của quân đội Do Thái.

Quân khí và chiến thuật quân đội Do Thái còn hơn cả lính Mỹ để lùng giặc trong thành phố, nhất là thành phố Gaza nhà cửa chằng chịt. Khi vào thành phố, quân đội áp dụng chiến thuật  gọi là ong vở tổ (en essains) để tiêu diệt địch, nghĩa là kẻ băng qua mái nhà, người rúc xuống hầm  hay băng tường vách, để đến mục tiêu, chứkhông cần lẫn mò theo đường sá. Mỗi trung đội trưởng được trang bị môt máy điện tử mã số nhỏ (Tzayad), đưa tin về cấp chỉ huy trực tiếp định vị đội hình của trung đội đang mai phục và vị nầy gửi lại hình ảnh những toán quân bạn đang làm gì tại đâu? Ông trung đội trưởng còn có một hệ thống đặc biệt để nhìn xuyên tường váchcác nhà cửa dinh thự, bằng cách dùng súng phóng lựu đạn hay súng ngắn xáp là cà bắn ra những viên đạn cho thấy mục tiêu trước khi xung phong. Nhờ vậy con số tử vong trong quân đội Do Thái rất thấp, khoảng 0,01%.

Về phần tâm lý, quân đội Do Thái cũng chuẩn bị kỷ lưởng. Người Ẫ rập Hồi giáo thì không bao giờ chịu hợp tác được với người Do Thái, nhưng trong thời gian gần đây chính quyền Do Thái lại áp dụng một lề lối vận động hành lang khá độc đáo. Quân đội Do Thái được lệnh không được làm khó dễ người Palestine trong những vùng chiếm đóng. Quân đội phải biết phân loại và trừng trị kẻ chủ mưu bạo động, không nên mạnh tay với người thường dân bị bắt làm con tin. Nhờ đặt nặng vấn đề dân vận nên phần lớn người Palestine theo tổng thống Mahmoud Abbas trở về chống lại tổ chức Hamas bằng cách cắt những đường giây internet hay phá sóng radio và truyền hình. Một số du kích theo Hamas dọc theo biên giới Do Thái cũng ngã theo tổng thống Abbas nên vấn đề bắn roquette vào đất Do Thái  giảm bớt nhiều. Trong khi kỷ thuật tác chiến của quân đội Mỹ là lấy tin tức, sau đó lợi dụng triệt để không quân để đánh những mục tiêu xa của địch, thì quân đội Do Thái lại ứng dụng cả ba phương tiện không quân, kỷ thuật điện tử và ngành điệp báo. 


Kết luận.


Xét về địa dư chính trị giữa Gaza và Do Thái cũng chẳng khác gi giữa Việt Nam và Trung Cộng. Việt Nam đã bị Trung cộng bao vây tứ bề. Nay lại còn thêm việc thiết lập con đường hoả xa Quảng Tây Hà Nội. Xét về dân số giữa Gaza và Do thái, cũng không khác gì giữa Việt Nam và Trung Cộng. Dân số Việt Nam chỉ xê xích tỉnh Quảng Tây.

Nay xét thêm giữa Cộng đồng tỵ nạn và Việt Cộng cũng có nhiều điểm sai biệt tương tự. Cộng Đồng hải ngoại không có đất đứng trong nôị địa, nhưng vấn đề nhân tâm thì Việt Cộng không chiếm đa số giữa người dân đang sống trong nước. Có thể nói hiện tại Việt Nam là thùng thuốc súng mà chế độ Việt Cộng đang băn khoăn cố tìm tháo ngòi nổ. Con số Cộng Đồng hải ngoại tuy chỉ bằng 1/30 dân số trong nước, nhưng Cộng Đồng đang có một sức mạnh tinh thần đáng kể. Đó là sức mạnh Tự do và Dân Chủ. Hơn nữa, thế giới hôm nay không còn là thế giới đơn diện mà là đa diện. Một nước Mỹ hay một nước Nga không thể là một quốc gia bá chủ, dù cho hai quốc gia này giàu có và nhiều súng đạn.

Hôm nay không thể có một quốc gia nào đơn phương đến cai trị và bóc lột một sắc tộc khác. Do Thái không thể tiêu diệt được Hamas, cũng như các nước Hồi Giáo vùng Trung và Cận Đông cũng không thể xoá tên Do Thái. Trung Cộng không thể đưa quân tràn sang bóp cổ Việt Cộng, nếu chính quyền Việt Nam chống lại sự cướp đất ngang ngược của Trung Cộng. Cũng như Việt Cộng không thể đơn phương khống chế đươc cộng đồng người Việt hải ngoại

Tóm tắt, qua kinh nghiệm cuộc nổi dậy lần thứ ba trên dải đất Gaza, câu hỏi căn bản có liên quan giữa Cộng Đổng Hải ngoại và Việt Cộng cũng như giữa Việt Nam và Trung Cộng đang cần tìm lời giải đáp: Hẳn Yếu sẽ thua và Mạnh sẽ thắng?


Lê Hùng Bruxelles.

Bộ phim làm rúng động Đạo Hồi