Pages

Showing posts with label Israel. Show all posts
Showing posts with label Israel. Show all posts

Thursday, November 28, 2013

Friday, November 1, 2013

Những Cảnh Đầy Đọa Và Tàn Sát Người Do Thái – Nguyễn Hiến Lê

Những Cảnh Đầy Đọa Và Tàn Sát Người Do Thái – Nguyễn Hiến Lê


Trước hết, chúng tôi xin kể thân phận người Do Thái ở các xứ theo Hồi giáo. Xét chung thì ở các xứ này, số người Do Thái không đông (cả thảy chỉ độ một hai triệu) và tình cảnh của họ không đến nỗi bi đát như ở châu Âu.

Theo Clara Malraux trong “Civilisation du Kibboutz” (Editions Gonthier – 1964) thì tình cảnh của họ như sau:

Tại Ba Tư; năm 1875: Hễ một người Do Thái đụng tới một vật gì thì vật đó hoá ra dơ dáy; vậy Do Thái ở Ba Tư cũng như hạng tiện dân (intouchable) ở Ấn Độ. Người Do Thái không được mở quán tạp hoá, trừ trong tỉnh Hamadan.
  Ngày mưa họ không được ra khỏi khu vực riêng của họ – khu đó gọi là mellah, cũng tựa như ghetto ở châu Âu – vì nếu họ đụng nhằm áo ướt của một người theo Hồi giáo thì người này hoá ra dơ dáy.

Một người Do Thái không được làm chứng và tuyên thệ ở toà án. Một người Hồi giáo giết một người Do Thái thì chỉ phải đền cho thân nhân người bị giết 140 kraus, rồi được tự do; người Do Thái tuyệt nhiên không được chống án.
Tại Maroc, người Do Thái không được pháp luật coi là công dân. Họ ở dưới quyền cai trị của nhà vua, nhà vua muốn xử với họ ra sao thì xử không cần theo luật pháp gì cả, có thể bắt họ làm nô lệ, giết họ cũng được nữa.

Tại Yemen, cho tới khi quốc gia Israel thành lập năm 1948, người Do Thái không được phép lớn tiếng trước mặt một người Hồi giáo, không được cất nhà cao hơn nhà các người Hồi giáo, không được đụng chạm người Hồi giáo, không được cùng bán một món hàng với người Hồi giáo, phải đứng dậy trước mặt một người Hồi giáo. Ngoài ra ngay từ hồi Mohamed (1), người ta đã cấm họ ăn mặc  những màu lợt, mang khí giới, từ lúc mặt trời lặn cho tới lúc mặt trời mọc không được ra khỏi khu riêng của họ; họ bắt buộc phải làm những việc dơ dáy như đổ thùng, có trẻ mồ côi thì phải giao cho nhà cầm quyền để nhà cầm quyền cho nó theo Hồi giáo.

Cũng có khi nhà cửa của họ bị tàn phá, thân họ bị đánh đập, chém giết nhưng đều do những nguyên nhân kinh tế, xã hội, chớ không do nguyên nhân tôn giáo. Và tuyệt nhiên không có những phong trào diệt chủng như ở châu Âu.

Sở dĩ vậy vì Hồi giáo không kỳ thị Do Thái giáo mạnh mẽ như Ki-tô giáo kỳ thị (2). Do Thái và Hồi giáo chấp nhận được nhau, đôi khi còn góp sức với nhau để chống kẻ thù chung nữa, như trong những thời Hồi giáo đi xâm chiếm các nước khác, đặc biệt là chiếm vài nước ở châu Âu, như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha.

***

Tại các xứ theo Ki-tô giáo

Tại các xứ theo Ki-tô giáo, nhất là ở châu Âu thân phận người Do Thái điêu đứng hơn nhiều, không thể tưởng tượng nổi.

Suốt mười mấy thế kỷ, không ở nơi này thì ở nơi khác, lúc nào cũng có những người Do Thái bị cái cảnh: “ghetto”, “pogrom”, hoả hình, lò thiêu, phải mang trên áo hình bánh xe hoặc hình ngôi sao vàng (một ngôi sao sáu cánh gọi là ngôi sao David) như tội nhân mang áo dấu: bị trục xuất, hoặc bắt buộc phải từ bỏ tôn giáo của họ mà theo tôn giáo khác: bị trút lên đầu tất cả những tội lỗi mà họ không hề gây ra; bị treo cổ, dìm nước, thọc tiết, thiêu sống… đâu đâu họ cũng gặp những cảnh địa ngục, chỉ vì họ là Do Thái.

Những hồi họ được sống yên ổn nhất thì thân phận của họ cũng chỉ như thân phận một nô lệ, một tên cùi hũi . Người ta cấm họ có bất động sản, thành thử muốn theo nghề nông thì họ chỉ có thể làm nông nô, tá điền. Muốn khá giả họ phải ở châu thành làm thợ kim hoàn, hoặc buôn bán, đổi tiền, cho vay. Giáo hội Ki-tô cấm tín đồ cho vay lấy lãi nên nghề sêt-ti, nghề ngân hàng gần thành độc quyền của họ. Cha truyền con nối, nhờ có kinh nghiệm của những thế hệ trước, họ làm giàu rất mau, chính vì giàu mà gây nhiều kẻ thù.

Người ta bắt họ phải sống trong những khu biệt lập gọi là ghetto, ban đêm không được ra khỏi khu. Những ghetto nổi danh nhất là ghetto Venise thành lập năm 1516, trong đó họ sống chui rúc như trong những hang chuột, chịu đủ thứ cấm đoán, mất hết tự do.

Sự học hành của họ bị hạn chế. Ngay đầu thế kỷ XX  ở Nga, trẻ con Do Thái cũng khó kiếm được một chỗ học. Chính phủ Nga không ra mặt cấm hẳn mà dùng một chính sách xảo trá, ra một sắc lệnh cho các trường Trung học chỉ được thu một số học sinh Do Thái bằng 10% số học sinh theo Ki-tô giáo, trong khi châu thành nào có người Do Thái thì số dân Do Thái cũng chiếm từ 30 đến 80% trong số dân vì họ bắt buộc phải sống chung gần như trong những ghettocủa Đức, Ba Lan.

Nếu chẳng may trong nước có một tai hoạ gì, bất kể là do tự nhiên hoặc do nhân sự, thì người ta trút hết cả tội lỗi lên đầu lên cổ họ. Mất mùa mà đói kém ư là tại tụi Do Thái đã làm cho Thượng đế nổi giận; bệnh dịch hạch phát sinh ra ư, chết hàng triệu người ư, cũng tại tụi Do Thái nữa; chiến tranh mà bại ư, tại tụi Do Thái phản trắc, ngầm cấu kết với địch; có đảo chánh ư, cũng tại âm mưu của Do Thái.

Người ta bắt họ đóng thuế thật nặng, vắt họ như vắt bò sữa, có khi tịch thu tài sản rồi đẩy họ ra khỏi cõi, thời nào cũng vậy, chớ không phải chỉ trong thời Đức Quốc Xã, thế chiến vừa rồi. Tình cảnh đó bất công đến nỗi một người trong Công giáo đã phải thốt ra câu này: “Nếu chỉ cần ghét tụi Do Thái cũng đủ là một người công giáo ngoan đạo thì hết thảy chúng ta đều là những công giáo ngoan đạo”.

***
Các cuộc tàn sát Do Thái

Từ hồi viễn chinh của Thập tự quân, thế kỷ XI cuộc tàn sát Do Thái mới thực sự bắt đầu.
Năm 1096 người ta rủ nhau đi giải thoát mộ của Chúa Ki-tô, và còn có gì hữu lý đứng trước khi làm việc thiêng liêng đó, phải trả thù những kẻ mà non 1100 trước đã chịu trách nhiệm vẽ cái chết của Chúa, đã giết Chúa.

Ở Worms trong hai ngày người ta giết tám trăm người Do Thái; bất kể là đàn ông đàn bà, già trẻ, hễ là Do Thái mà không chịu theo đạo Ki-tô là bị chém giết bằng gươm, bằng giáo, bằng thuổng cuốc.

Ở Mayence, cảnh còn rùng rợn hơn nữa vì người Do Thái chống cự lại, rồi như say máu, họ quay lại giết chinh người cùng đạo với họ, giết cả vợ con, cha mẹ họ! Thật là kinh khủng. Có những bà mẹ đương cho con bú, cầm ngay lấy dao hay gươm cứa cổ con để cho chúng khỏi chết vì tay những người không theo đạo Do Thái. Bảy trăm người chết trong vụ đó.
Cộng hai vụ là một ngàn rưởi mạng. Một ngàn rưởi mạng đó đã tạo cho dân Do Thái một tâm hồn mới: họ biết rằng không thể sống chung được nữa, người ta cũng bắt họ phải đổi đạo thì họ lại càng cương quyết giữ đạo, giữ truyền thống của họ.

Thù oán họ nhứt là một số tín đồ Ki-tô giáo. Người phương Đông chúng ta đọc lịch sử phương Tây không làm sao hiểu nổi cái mối thù non hai ngàn năm của đa số dân chủng châu Âu đối với dân tộc Do Thái. Tôi có cảm tưởng rằng người phương Tây có tinh thần – tôi gần như muốn nói là cái “máu” kỳ thị màu da và tôn giáo. Chỉ ở châu Âu chúng ta mới thấy những chiến tranh tôn giáo dằng dai và kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại; và chỉ ở Mỹ – cũng là gốc Âu nữa – chúng ta mới thấy những vụ tàn sát da đỏ và da đen nối tiếp nhau hàng thế kỷ.
   Người phương Đông chúng ta vẫn thường chém giết nhau vì quyền lợi, vì danh dự, đôi khi cũng vì tín ngưỡng, nhưng cơn giận xong rồi thì thôi, Việt Nam, Trung-hoa, Nhật Bản hay Triều Tiên… lại vui vẻ sống chung với nhau, buôn bán với nhau, gả con gả cháu cho nhau, nhậu nhẹt với nhau, làm thơ tặng nhau, có bao giờ mà thù nhau truyền kiếp như đa số người theo Ki-tô giáo đối với những người theo Do Thái giáo, hoặc đa số người Mỹ da trắng đối với người Mỹ da đen.

Mà hai tôn giáo đó – Do Thái giáo và Ki-tô giáo – vốn là anh em với nhau chứ! Thánh Mẫu Marie và Chúa Ki-tô đều là Do Thái cả. Cả hai đều tuân theo những luật của Moïse, một vĩ nhân của Do Thái. Chúa Ki-tô lại còn giảng đạo trong những giảng đường của Do Thái giáo, môn đệ của Ngài đều là người Do Thái. Người ta bảo các thầy tu và tín đồ Do Thái đứng về phía nhà cầm quyền La Mã mà phản Ngài, nên Ngài mới bị xử tử, và khi Ngài bị đóng đinh trên thánh giá, tụi Do Thái reo: “Nếu chúng ta có tội thì máu hắn cứ rớt lên đầu chúng ta và con cái chúng ta”, rồi người ta dựng lên một thuyết kỳ dị rằng dân tộc giết Chúa sẽ đời đời kiếp kiếp bị một hình phạt rất nặng là lang thang hoài trên thế giới để chuộc tội.

Những điều tôi mới trình bày ở trên đều rút trong bài “L’antisemitisme, plaie des temps moderne” của Léon Poliakov đăng trong Le Courrier de l’Unesco số đặc biệt tháng mười năm 1960.

Trong số tháng giêng năm 1961, cũng tạp chí đó, linh mục Congar, viết một bài trả lời Léon Poliakov, nhan đề là Les chrétiens et l’ antisemitisme, đại ý nói rằng ý kiến của Léon Poliakov có phần đúng, nhưng có vài điểm ông không đồng ý, chẳng hạn:
1. Người Công giáo ghét người Do Thái không phải là vô lý: trong bốn thế kỷ đầu sau Tây lịch, người Công giáo bị giết hại rất nhiều vì sự tố cáo của người Do Thái
2. Sự thù oán Do Thái do tôn giáo khác nhau chứ không do óc kỳ thị chủng tộc.
3. Chính người Do Thái tự sống cách biệt với người Công giáo chứ không phải tại người Công giáo dồn họ vào các ghetto.
4. Tư tưởng Công giáo thời xưa không chống riêng gì người Do Thái mà chống hết thảy những người ngoại đạo, Do Thái hay không Do Thái.
5. Trong giới Công giáo cũng có nhiều người bênh vực Do Thái, như Giáo hoàng Pie XI, Pie XII.

Ông Poliakov nhận rằng bốn điều 1, 2, 3, 5 đều đúng và ông cũng nghĩ như Linh mục Congar có khác chỉ là ở tiểu tiết thôi. Nhưng về điểm 4 thì ông giữ ý kiến của ông: rõ ràng là người Do Thái bị người Công giáo ghét một cách đặc biệt vì cái mối thù “giết Chúa” từ hồi xưa.

Người Do Thái có giết Chúa không? Điều đó, chúng tôi không biết. Việc xảy ra đã non hai ngàn năm rồi, nhà khảo cứu nào dám chắc là nắm được sự thực? Nhưng dù rằng Chúa Ki-tô chết vì bị vu oan, bị phản, thì những thầy tu và tín đồ đã phản Ngài cũng không phải là toàn thể dân tộc Do Thái, không phải là toàn thể những người Do Thái có mặt lúc đó nữa. Vả lại thời nào, dân tộc nào mà chẳng có những tăng lữ thối nát hoặc sợ sệt hùa theo chính quyền. Chính Chúa Kitô trước khi tắt thở còn “xin Cha tha thứ cho họ vì họ không biết họ làm gì”, thế thì tại sao người ta lại thù oán cả dân tộc Do Thái, thù lây đến cháu chắt của họ cả mấy chục đời sau nữa?

Sau vụ tàn sát năm 1096 ở châu Âu, tiếp tới các vụ dưới đây:
Năm 1113, “pogrom” đầu tiên ở Kiev, Ukraina ( Nga). Chúng tôi không được biếtpogrom hồi đó kinh khủng ra sao, nhưng đọc những tài liệu mới đây viết về đời cô Golda Meyerson, (bộ trưởng Bộ ngoại giao của Israel hồi nhỏ sống ở Nga) được biết ở cuối thế kỷ XIX, tại Nga, Ba Lan, người Do Thái vẫn còn bị cái hoạ pogrom, pogrom là một tiếng Nga có nghĩa là bạo động phá phách. Thỉnh thoảng dân Nga hay Ba Lan vì một chuyện xích mích gì đó, nổi điên lên rủ nhau từng đoàn hàng mấy trăm người, cầm dao, búa, gươm, gậy vào những khu Do Thái mà khủng bố, đập phá, chém giết vô tội vạ. Cuộc bạo động lan từ tỉnh này qua tỉnh khác, một vài tháng mới dẹp xuống. Dân Do Thái mỗi lần nghe tin một đợt pogrom nổi lên, sợ xanh mặt, đóng kín cửa lại, chặn hai ba lớp, không dám ló mặt ra, hồi hộp đợi từng giờ từng phút, luôn trong mấy ngày, cho bọn hung thần đi qua. Mặc dầu vậy, chủng vẫn tông cửa xông vào, rất ít gia đình Do Thái tránh được.




Chính Chaim Weizmann (2), tổng thống đầu tiên của Israel, trong cuốn Naissance d’Israël (Ganimard 1957) nhắc lại những nỗi kinh khủng của đồng bào ông trong những vụ pogrom năm 1881 và 1903.

Năm 1138 – Bọn Alhomade tàn sát Do Thái ở Tây Ban Nha.
Năm 1182 – 1198 – Vua Philippe Auguste lưu đày tụi Do Thái
Năm 1189 – Viễn chinh lần thứ ba của Thập tự quân. Tàn sát Do Thái ở Anh.
Năm 1215 – Giáo Hoàng Innocent III ra lệnh cho Do Thái phải đeo hình bánh xe nhỏ (rouelle) ở ngực.
1254 – Vua Saint Louis lưu đày Do Thái.
1290 – Do Thái bị trục xuất ra khỏi Anh.
1330-1338 – Do Thái bị tàn sát ở Đức.
1348 – Nhân bệnh dịch hạch hoành hành ở châu Âu, người trút tội lỗi lên đầungười Do Thái và tàn sát họ
1391 – Do Thái bị giết ở Séville và bắt buộc phải cải giáo ở Tây Ban Nha
1394 – Vua Charles VI lại lưu đầy người Do Thái.
1421 – Do Thái bị trục xuất khỏi Vienne.
1492- Do Thái bị trục xuất khõi Tây Ban Nha
1495 – Do Thái bị trục xuất khỏi Lithuanie.
1498 – Do Thái bị trục xuất khỏi Bồ Đào Nha.
1516 – Thành lập ghetto đầu tiên ở Venise.
1563 – 1656 – Do Thái bị tàn sát ở Ukraine, Đức, ba Lan, Áo
1670 – Do Thái bị trục xuất khỏi Vienne
1740- Do Thái ở Prague bị lưu đày.
1768 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Ukraine.
1827 – Nga hoàng Nicolas I bắt buộc các trẻ em Do Thái phải cải giáo.
1866 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Roumanie
1883 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Nga.
1883 – Do Thái bị trục xuất khỏi Moscow.
1894 – Vụ Dreyfus (trong chương sau chúng tôi sẽ kể)
1903 – Một vụ pogrom xảy ra ở Kichinev (Roumanie)
1905 – Nga thua Nhật – Cách mạng nổi lên ở Nga, và người ta lại trút cả tội lên đầu Do Thái do đó có nhiều vụ pogrom xảy ra trong tháng 10.
1919-1921 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Nga

Bảng liệt kê ở trên, chúng tôi trích trong cuốn Israel của David Catarivas. Dĩ nhiên, ông chỉ ghi những vụ lớn lưu danh trong lịch sử châu Âu thôi, còn những vụ hành hung; giết chóc lẻ tẻ, trong mỗi tỉnh, mỗi làng thì không thể nào chép hết được.

Nhưng tất cả những vụ đó, ngay cả những vụ ở Worms, ở Mayence, thế kỷ XI,cũng không thấm vào đâu so với những vụ tàn sát Do Thái ở Ba Lan và Đức trong thế chiến vừa rồi.


Đã kỳ thị tôn giáo, nay lại thêm kỳ thị chủng tộc

Trước kia người ta thù oán, căm hận nổi điên  lên mà chém giết cho hả, lần này thì Đức Quốc Xã của Hitler tàn sát Do Thái một cách bình tĩnh, có kế hoạch, có tổ chức theo đúng tinh thần khoa học, cho nên ghê gớm rùng rợn vô cùng, không tiền khóang hậu trong lịch sử nhân loại.

Người ta muốn tận diệt người Do Thái và như vậy, nhen lại lòng kỳ thị tôn giáo dĩ nhiên, là không đủ, rất nhiều người Do Thái đã cải giáo rồi, lấy lẽ gì mà giết họ. Cho nên người ta phải gây thêm lòng kỳ thị chủng tộc: hễ tổ tiên ba bốn mươi đời là Do Thái thì cũng bị giết, bất kỳ là đã cải giáo hay không cải giáo. Muốn kỳ thị chủng tộc, thì phải có một thuyết phân biệt chủng tộc: Dân Đức Quốc Xã moi các sách cũ trong thư viện ra và tim thấy cuốn Espèces de Plantesxuất bản năm 1753 của nhà vạn vật học Thuỵ Điển tên là Linné (1707-1778). Linné phân loại cây cỏ làm 24 giống, vạch những tinh chất đặc biệt của mỗi giống, lập thành một hệ thống tài tình được các nhà khoa học thế giới rất hoan nghênh. Phân loại cây cỏ rồi, ông phân loại tới loài người: “giống Âu da trắng  siêng năng”, “giống Á da vàng dai sức”, “giống Phi da đen  bạc nhược” và “giống Mỹ da đỏ  nóng nảy”.

Thế là thuyết chủng tộc đã phát sinh và những người sau tha hồ mà phân tích, tưởng tượng, chia thêm ra vô số tiểu chủng nữa: giống Âu gồm những tiểu chủng Mông cổ, Thái, Mã Lai… Người ta cố tìm những nét đặc biệt về sắc, tướng của mỗi giống rồi cố giảng rằng những sắc, tướng đó quyết định tính tình, đức tốt, và tật xấu của con người. Cố nhiên, trong các giống người đó, có giống Do Thái và người ta tranh nhau vạch những đức cũng những tật của người Do Thái mà quên rằng thế giới hiện nay nếu còn có một giống Do Thái thì giống đó tất phải là những người Ả Rập sống trên lưu vực sông Euphrate, chứ không phải là những người Do Thái đã nhập tịch Anh, Đức, Ý, Mỹ.., và sống ở London, Berlin, La Mã, New York… vì những người này đã lai cả chục lần rồi, trong huyết quản may lắm là còn giữ được một phần mười máu của tổ tiên họ hồi theo Moïse mà định cư ở Israel.

Và người ta reo mừng rằng đã kiếm được một “căn bản khoa học” cho chủ nghĩa bài xích Do Thái.

Sau thế chiến thứ nhất, Đức Quốc Xã nắm ngay lấy cơ hội, tuyên truyền rằng giống Do Thái có máu quỉ quyệt, phản bội - thì xưa họ chẳng phản Chúa đấy ư? – không khi nào đồng hoá với các dân tộc khác, sống ở xứ nào cũng như bọn người lạ, chỉ tìm cái lợi cho họ mà nhiều khi chống lại chính phủ - thuyết cộng sản chẳng phải là thuyết của Karl-Marx, một tên Do Thái đấy ư? – Vậy để cho họ sống, sẽ có hại cho nền an ninh của Đức, mà một giống thông minh nhất thế giới, anh hùng nhất thế giới, tài giỏi nhất thế giới, cao thượng nhất thế giới sẽ lai bậy bạ mà sa đoạ lần lần mất. Phải tống cổ tụi Do Thái đi, sau khi tịch thu tài sản của chúng; như vậy lợi cho quốc gia biết bao, vì người Do Thái nào mà chẳng có nhiều tải sản: bọn đó là con buôn ham tiền mà keo cú, tích luỹ tiền đã mấy chục đời rồi!
Mới đầu người ta cấm họ hành nghề, rồi người ta cấm họ vào các rạp hát, các thư viện, các viện tàng cổ. Họ vẫn nhẫn nhục ở trong cái xứ mà từ bấy lâu nay họ đã coi là tổ quốc, dù sao như vậy vẫn còn hơn là làm bọn hành khất ở các nước khác. Rồi người ta cấm họ mướn người ở – một giống hạ tiện đâu có quyền mướn một người thuộc giống cao quý nhất thế giới – lại bắt họ phải đính ngôi sao David (3) lên áo để cho mọi người dễ nhận ra họ như nhận tụi cùi, tụi tù nhân. Không ngờ ở thế kỷ chúng ta mà câu tục ngữ Nga này lại đúng đến thế: “ Không ai dám chắc suốt đời không phải làm kẻ ăn mày hoặc kẻ tù tội!”

Từ các nhà bác học tới các giáo sư Đại học, các giám đốc ngân hàng, hễ tổ tiên ba bốn mươi đời là Do Thái, thì cũng đành phải xin tờ hộ chiếu của một nước khác, rồi bỏ hết tài sản lại cho Đức Quốc Xã, xách một va li nhỏ đựng ít quần áo rồi ra đi. Một sản phẩm lạ lùng của thế giới văn minh này là tờ hộ chiếu. Không có tờ đó hộ thân thì có tài đức bực gì cũng bị nhốt khám? Có khi ở trong một xứ, đi từ tỉnh này qua tỉnh khác cũng phải có một tờ hộ thân. Einstein, nhà bác học làm vẻ vang cho cả nhân loại, đã được chính phủ Đức ban cho đủ các ân huệ, dựng một tượng bán thân của ông ở Postdam, tặng ông một dinh thự và một chiếc tàu buồm, gọi là tỏ “lòng quý mến và ngưỡng mộ bất tuyệt” của dân tộc mà rồi ít năm sau, người ta đòi lại tất cả những cái đó, ông sợ, không dám trở về quê quán nữa, trốn ra đi, qua Bỉ, sống lén lút trong một ngôi nhà có cửa song sắt và đêm nào cũng phải có một người lính canh cho ngủ. Ở Bỉ cũng không yên, ông lại phải trốn qua Mỹ, nhập tịch Mỹ làm giáo sư trường Đại học Princeton.

Freud cũng là một bậc thiên tài của nhân loại, đã phải trốn trước Einstein từ năm 1938, hồi 80 tuổi, ông qua ở nhờ nước Anh, gặp văn sĩ Stefan Zweig ở London. Trước kia trong cuốn L’avenir d’ une illusion (Tương lai của một ảo ảnh), Freud đã bảo rằng nhân loại xây dựng được nhiều nền văn minh, nhưng số người văn minh thì thời nào cũng rất ít, và đa số chỉ có cái bề ngoài là văn minh; họ hoảng sợ khi nghĩ tới chuyện giết người, hiếp dâm nhưng rồi chính họ, nếu gặp cơ hội thoả mãn thú tính của họ mà không bị trừng trị thì sẽ không do dự gì cả, thẳng tay làm hại đồng loại bằng mọi phương tiện tàn nhẫn, bỉ ổi, không ngờ mà ngay trong đời ông, ông phải thấy thuyết của ông đúng quá: ông và hàng triệu đồng bào của ông đã là nạn nhân của cái nền văn minh bề ngoài ấy của phương Tây.

Freud chết ở London năm 1936. Ba năm sau, nghe thấy những tin tức rùng rợn về cuộc tàn sát Do Thái ở Trung Âu và Tây Âu, Stefan Zweig âu sầu quá, tự tử sau khi đã để lại cho đời một hồi ký thê thảm nhan đề “Le monde d’hier” (Thế giới hôm qua) trong đó có đoạn chua chát:
“Những cái thảm thương nhất trong bị kịch Do Thái ở thế kỷ XX này là những kẻ bị tai hoạ không thể hiểu nổi ý nghĩa của bi kịch đó; tại sao người ta lại giết họ khi họ không có lỗi gì cả? Thời trung cổ, tổ tiên họ phải đau khổ, nhưng ít nhất cũng hiểu mình đau khổ vì cái gì: vì tín ngưỡng, vì luật trong đạo (…). Và khi người ta liệng họ lên giàn hoả, thì họ ôm Thánh Kinh vào lòng, nhờ nhiệt tâm trong lòng mà chịu được sức nóng của ngọn lửa thiêu họ (…) Nhưng đã từ lâu rồi, những người Do Thái ở thế kỷ XX không còn tín ngưỡng đó nữa, chỉ muốn sáp nhập vào các dân tộc khác (…); đã từ lâu rồi họ thành, những người Pháp, Đức, Anh, Nga, không còn nhiều tính cách Do Thái nữa, thì tại sao người ta lại tàn sát họ, hốt họ như hốt bùn trên đường (…) Tại sao họ phải chịu hoài số kiếp đó? Mà chỉ có riêng họ phải chịu? Người ta tàn sát họ như vậy là có lý do gì không? Có ý nghĩa gì không? Có mục đích gì không? Tại sao?


Chú thích:
Giáo chủ Hồi giáo (570 – 632) hồi xưa quen viết là Mahomet
Theo J. madaule trong Les Juifs et le monde actuel –Flammation – 1963
Ông sanh ở Motel (tỉnh Minsk) trên đất Nga – Có sách viết là Zaim Weizmann.
Vua thứ nhì của Israel, đã thắng dân tô(c Philistin (khoảng 1000 năm trước Tây lịch)

Thursday, August 29, 2013

Lịch Sử Vùng Đất Thánh Địa Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem

Lịch Sử Vùng Đất Thánh Địa Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem

Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem là thánh địa của 3 môn phái lớn trên thế giới: 


Do thái 



Kitô phái  



Hồi phái



Tư liệu lịch sử cổ Ai Cập đã nói đến Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem, có từ 3.000 năm Trước Công Nguyên. 


Với người Do Thái , Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem là nơi Vua David lập thành đô. 



Với người Kitô phái , Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem là nơi xảy ra nhiều sự kiện cuối đời của Chúa Giêsu, nhất là biến cố tử nạn phục sinh của Ngài. 

Với người Hồi phái , Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem là nơi tiên tri Muhammad đã đến hành hương, là thánh địa quan trọng của họ sau Mecca và Medina trung tâm của đạo Hồi ở Ả rập Saudi. 

Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem, tiếng Do Thái gọi là Yerushalayim, người Ả rập gọi là Al Quds. Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem là một ngã tư nơi xảy ra nhiều cuộc tranh chấp. Khảo cổ xác minh điều đó ở những di tích của thành cổ còn sót lại. 

Lịch Sử Vùng Đất Thánh Địa Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem là những cuộc chiến tranh, thôn tính, tàn phá và xây dựng lại. Đế quốc Babylon, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, Byzantine, Thỗ Nhĩ Kỳ, Ottoman, Anh đều đã đặt chân lên Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem  Trong mọi thời kỳ, đền thờ vốn là biểu tượng của Israel vinh quang và nhục nhã, trung thành và phản bội. 

Năm 1000 Trước Công Nguyên, vua David thiết lập Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem như là kinh đô của Liên hiệp Vương quốc Israel và Judah và từ đó cai quản Mười hai bộ lạc của Israel.

Năm 970 Trước Công Nguyên, con của vua David là vua Solomon trở thành vua của Israel. Trong vòng mười năm, Solomon bắt đầu xây dựng Đền thờ thiêng liêng được biết đến như là Đền thờ Đầu tiên.



Năm 722 Trước Công Nguyên, người xứ Assyria chinh phục vương quốc Israel.



Giai đoạn Đền Thờ thứ nhất kết thúc vào khoảng 586 trước Công Nguyên, khi vua nước Babylon là Nebuchadnezzar II thân chinh đốc suất đại binh phạt Vương quốc Judah và phá hủy Đền thờ Do Thái. 

Năm 516 TCN Đền thờ thứ hai được hoàn thành vào triều đại vua Darius Đại Đế.

Alexander Đại Đế chinh phục Đế quốc Ba Tư, vùng đất Israel rơi vào quyền cai trị của người Hy Lạp cổ (Hellenistic Greek), cuối cùng lại mất vào tay Vương quốc Ptolemaios rồi lại mất vào tay Vương quốc Seleukos.

Triều đình Seleukos cố gắng cải tạo lại Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem khi một thành phố theo văn minh Hy Lạp trở thành người đứng đầu sau khởi nghĩa Maccabean thành công năm 168 TCN lãnh đạo bởi tu sỹ Mattathias cùng với 5 người con trai của ông ta chống lại Antiochus Epiphanes, và họ thành lập Vương quốc Hasmonean năm 152 TCN với Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem một lần nữa là kinh đô của vương quốc. Vương quốc Hasmonean kéo dài trên một trăm năm, nhưng sau đó khi Đế quốc La Mã trở nên hùng mạnh hơn họ dựng lên Herod như là một vua chư hầu người Do Thái. Vương quốc của vua Herod cũng kéo dài trên một trăm năm. Bị đánh bại bởi người Do Thái trong cuộc khởi nghĩa Do Thái thứ nhất năm 70, cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã đầu tiên và cuộc khởi nghĩa Bar Kokhba do Simon bar Kokhba lãnh đạo năm 135 CE đã đóng góp đáng kể vào số lượng và địa lý của cộng đồng Do Thái ở nước ngoài, do một phần lớn dân số Do Thái của vùng đất Israel bị trục xuất rồi bị bán làm nô lệ trong toàn Đế quốc La Mã. Kể từ đó, những người Do Thái đã sống trên mọi đất nước của thế giới, chủ yếu là ở châu Âu và vùng Trung Đông.

Những người Do Thái không bị trục xuất trong thời kỳ Đế Quốc La Mã là người Do Thái Samaria. 
Dân số hiện nay của người Do Thái Samaria là khoảng 800 người.


Hình ảnh người Do Thái Samaria ngày nay




Năm 614 người Ba Tư chiếm được Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem.



Năm 638, người Ả rập chiếm được Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem, họ cho xây tại chính tâm Đền thờ giáo đường El Apsa, sau đó giáo đường Omar. 

Kể từ đó, người Do Thái thường đến than khóc tại bức tường Than Khóc.

Hình ảnh bức tường Than Khóc từ đầu đến khúc 1:20 ( hết )




Năm 1095, bắt đầu cuộc thánh chiến giữa Kitô phái và Hồi phái.



Năm 1099, Thập Tự quân chiếm đóng, Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem thành một nước thuộc quyền người Kitô.


Năm 1187, Saladin ( Hồi phái ) chiếm được Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem. 





Năm 1516, lại rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ.

Sau chiến tranh thế giới lần I, năm 1922 Gia Liêm - Giêrusalem - Jerusalem đặt dưới quyền kiểm soát của người Anh. 

Năm 1948, người Do Thái về lập quốc.



Sunday, June 16, 2013

Do Thái Giáo Và Chủ Nghĩa Dân Tộc Do Thái

Họ bị cả thế giới coi là một bọn mất gốc, lang thang, ti tiện, vậy mà khi Herzl hô hào người Do Thái phải tự cứu lấy mình, thì họ đã biết tự cứu lấy họ.
Thực dân nào, bất kỳ Đông hay Tây, cũng chỉ nhắm cốt quyền lợi của họ trước hết: còn có lợi cho họ thì họ giúp, hếl lợi thì họ bỏ và đàn áp. Do Thái bị Anh bỏ rồi Nga bỏ, Ai Cập bị Mỹ bỏ rồi Nga bỏ; cả bán đảo Ả Rập là nơi họ tranh giành ảnh hưởng với nhau. Nhưng trên nửa triệu dân Do Thái đã quyết tâm phục hồi quốc gia thì thực dân Anh cũng phải chịu thua mà Nga cũng không dám ăn hiếp họ. Họ tự coi họ là một dân tộc thì thực dân đảnh phải nhận họ là một dân tộc.
Trích từ Bài học Israel - Nguyễn Hiến Lê - TỰA
http://vnthuquan.net/(S(tmsdoy55xdrnjpqrfhupfo45))/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnnn4nmn2n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1


Do Thái giáo (tiếng Hebrew יהודה, Yehudah)[1][2] là một tôn giáo gắn liền với Kinh Thánh Do Thái và lịch sử dân tộc Israel. Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là đang nói đến nhóm tôn giáo-dân tộc, vì các lý do trong sách thánh đã xác định họ là một quốc gia, chứ không chỉ riêng những người theo đạo.
Chủ nghĩa dân tộc do thái
Xưa kia những người Hebrew cho rằng họ đều là con cháu của Abraham, một nhà tiên tri được sinh ra vào thế kỷ 17 trước công nguyên. Người Hebrew khi đó sau khi thoát khỏi cảnh giam cầm của đế quốc Babylon theo Abraham đến vùng đất bờ biển phía đông Địa trung hải để tìm nơi cư trú và lập một tôn giáo mới cho người Hebrew. Con trai của Abraham là Isaac, và cháu là Jacob đều là những người kế nghiệp Abraham khai sinh và truyền bá đạo Do Thái. Theo chân Jacob người Hebrew đến Ai cập, nhưng sau đó bị đối xử như những nô lệ, để rồi 250 năm sau một lãnh tụ tên là Mose đưa họ quay lại vùng đất mà Abraham đã từng tiên tri là vùng đất Chúa dành riêng cho con cháu ông. Sau này khi người Hebrew lớn mạnh họ lại bị chia làm hai nước, Israel và Juda. David là vua của Israel nổi tiếng bởi tài quân sự và được coi là người có công xây thành Jerusalem (khoảng 1100 tr CN) và thống nhất dân tộc Do Thái. Cũng từ đó người Do Thái mang biểu tượng của David với ngôi sao 6 cánh.
Di cư và làm giầu:
Có nguồn gốc từ dân du mục được gắn bó bằng niềm tin tôn giáo, người Do Thái di cư và cư trú rất nhiều quốc gia khác nhau, đông nhất là ở Bắc Mỹ (6,5tr), thứ nhì ở Israel (4,7tr) và ở các nước EU (2,3tr). Điều đáng chú ý là suốt 4000 năm tồn tại số lượng người dân Do Thái không thay đổi nhiều, dù sống đan xen với các tôn giáo khác.
Trong cuốn Torah , cuốn kinh thánh quan trọng nhất của tôn giáo này, mô tả những cuộc di dân của người Do Thái về miền đất thánh. Khi đó họ chỉ là những nô lệ cho đế quốc Babylon hoặc cho các hoàng đế Ai cập. Trên mảnh đất mà ngày nay gọi là Palestine, có thành Jerusalem, là nơi xuất phát của nhiều tôn giáo. Người Do Thái tin rằng đó chính là mảnh đất mà Chúa đã hứa là sẽ tặng riêng cho họ, từ đó người Do Thái gọi là miền đất hứa. Lịch sử cũng có ghi lại những vị vua của quốc vương Do Thái từng cai trị tại đó. Thế nhưng đây cũng là nơi mà đạo Kito và đạo Islam cũng coi là mảnh đất thiêng của họ. Vì thế mà có 7 cuộc thập tự chinh của những người Thiên chúa giáo giải phóng cho miền đất thánh. Và ngày nay người Hồi giáo cũng không muốn nhường mảnh đất này hoàn toàn cho người Do Thái. Chiến tranh tôn giáo liên miên làm người Do Thái phải phân tán khắp nơi, tuy nhiên tôn giáo này vẫn duy trì được những truyền thống riêng để rồi sau này tồn tại như một dân tộc.
Từ thế kỷ 15 người Do Thái di cư sang châu Âu, họ xuất hiện nhiều đặc biệt ở phần đông Âu (Balan, Nga), rồi chuyển dần sang tây Âu vào thế kỷ 18.
Tôn giáo này cố gắng chịu tồn tại xen kẽ với các tôn giáo khác mà không gây xung đột - sensible and tolerant, họ cũng bắt đầu chấp nhận cả những người không cùng chủng tộc trong sinh hoạt tôn giáo. 

Khuôn mặt có nét Đông Á giữa những người Do Thái


Người Do Thái Châu Phi

Người Do Thái Châu Á
Người Do Thái Châu Âu
Người Do Thái Châu Phi


Có cả những người Do Thái có nguồn gốc Nga, Đức, Nhật... Gần như họ đã hoà nhập vào cuộc sống tại châu Âu trong khi chỉ còn lưu giữ chung một niềm tin tôn giáo. Như vậy người Do Thái tồn tại trong xã hội châu Âu có hai mặt, họ tồn tại được nhờ tiếp cận được văn hoá châu Âu (thời phục hưng và kỷ nguyên ánh sáng), đồng thời luôn có đời sống riêng của cộng đồng dựa trên đức tin vào Do Thái Giáo.



Dân Do thái làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Mới đầu họ làm nghề thủ công và làm nông nghiệp. Đáng chú ý là người Do thái thường thành công trong việc làm giầu, nhất là khi họ chuyển sang thương mại, mở cửa hàng buôn bán. Sau này khi châu Âu phát triển công nghiệp những nhà tư bản gốc Do thái chiếm một phần đáng kể. Tất nhiên đi đôi với tích luỹ tư bản bao giờ cũng bị mang tiếng là tham lam, ky cóp và bóc lột. Sự thành công của người Do Thái trong làm ăn buôn bán lại làm cho họ lại bị xua đuổi. Ở Nga năm 1881, chế độ Nga Hoàng có chính sách xua đuổi người Do Thái vì thế gây ra hàng loạt vụ giết người Do Thái. Chính vì sự kỳ thị này mà bác sĩ Leon Pinsker đã viết cuốn "Autoemanzipation" -tự giải phóng, xuất bản ở Odessa-1882 để lên tiếng bảo vệ người Do Thái. Pinsker cũng được coi là người đầu tiên của phong trào Zionism - phong trào phục quốc Do Thái. Năm 1892 người Pháp kết tội một số nhà tư bản Do Thái là nguyên nhân phá sản của công ty Panama-kanal, đẩy nước Pháp vào khủng hoảng kinh tế. Năm 1894 Dreyfus, một người gốc Do Thái, bị kiện ra toà án sử tội phạm chiến tranh. Vụ Dreyfus Affair này làm dấy lên phong trào Antisemitism - phong trào bài Do Thái. Mặc dù Dreyfus sau này được minh oan nhưng giường như ngọn lửa tức giận đã bùng lên và không thể dập tắt được nữa. Người Do Thái bị lên án ở khắp châu Âu. Đặc biệt ở Đức, dưới chế độ Hitler tháng 11 năm 1938 được gọi dưới cái tên Novemberpogrom, hàng loạt cửa hàng, tài sản của người Do Thái bị đập phá. Sau những vụ này người Do Thái di cư phần lớn sang Mỹ , một số ít sang Canada và Argentina. Những gì diễn ra tiếp theo trong chiến tranh thế giới thứ 2 thì không nói mọi người cũng đã biết.
Sau khi thành lập nhà nước Israel năm 1948 trên mảnh đất Palestine, người Do Thái kêu gọi nhau về xây dựng đất nước, họ lại lục đục kéo về. Nhưng trước sự chống phá của người Hồi giáo làm cho cuộc sống trở lên bất ổn một số người Do Thái lại tìm cách ra đi. So với các sắc dân thiểu số di cư khác thì người Do Thái là người thành công nhất trên thương trường cũng như trong chính trị.
Từ việc di dân của người Do Thái có thể rút ra kết luận là: Tôn giáo và văn hoá nói chung có thể tồn tại đan xen, nhưng cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn trước khi đi đến hoà giải. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự di dân sẽ còn diễn ra mạnh mẽ hơn nữa, nó sẽ làm nảy sinh các vấn đề văn hoá xã hội phức tạp còn khó khăn hơn cả những gì đã diễn ra với người Do Thái.
Zionism: (Zion là tên một ngôi đền Do thái)

Phong trào phục quốc Do thái xuất hiện trên quan điểm cho rằng người Do thái ở châu Âu bị thiệt thòi trong các mâu thuẫn với các dân tộc khác bởi do không có một nhà nước bảo vệ họ. Nhà văn người Áo, Theodor Herzl, chính thức đưa ra quan điểm này năm 1896 với tác phẩm "Nhà nước Do thái". Một năm sau, 1897, hội nghị đầu tiên được tổ chức tại Basel đưa ra tuyên bố kêu gọi thành lập nhà nước Israel trên mảnh đất Palestine. Đồng thời kêu gọi tất cả những người Do thái trở về xây dựng quốc gia. Năm 1909 ra đời thành phố đầu tiên cho người Do thái, thành phố Tel Aviv. Trước chiến tranh thế giới thứ nhất người Do thái chỉ chiếm 10% dân số ở Palestine. Tuy nhiên con số này tăng lên nhanh chóng, dần gây ra mâu thuẫn với người Arập đang sống tại đó. Cùng với phong trào Zionism, ở châu Âu xuất hiện phong trào Antisemistism chính là nhằm chống đối lại. Hai phong trào này gần như cân bằng cho đến khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra. Người Đức tưởng họ dứt điểm được Zionism, nhưng đâu ngờ họ chính là nguyên nhân sâu xa của việc ra đời nhà nước Israel vào năm 1948. Người ta không nghi ngờ gì là ngưòi Do Thái quá thiệt thòi do không có nhà nước riêng bảo vệ họ. Liên hiệp quốc, khi nó mới được thành lập, cũng không ngờ hậu hoạ của một quyết định mang đầy tính nhân đạo lại biến trung đông thành lò lửa chiến tranh tôn giáo. Sự ra đời của nhà nước Israel còn phải kể đến đóng góp của Anh, Mỹ và Vatican.
Phong trào zionism xuất hiện trong thập kỷ 19-20, là thập kỷ của những phong trào quốc tế, cho ta thấy chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vẫn còn đang đan xen lẫn nhau, cả hai đều có lúc dâng lên rồi chìm xuống, chưa biết sẽ ngã ngũ ra sao trong thế kỷ 21.


Những người đàn ông Do Thái ôm nhau .


Những người đàn ông Do Thái ôm nhau .


Góp nhặt mỗi cái một ít ^^
Nguồn tham khảo

Friday, May 17, 2013

Lịch Sử Của Người Nhật Nhĩ Man



Lịch Sử Của Người Nhật Nhĩ Man

ISRAEL VÀ Nhật Nhĩ Man

Nguyễn Trần Ai

Chuyện kể:

Jacob (sau đổi tên là Israel) và Leah sinh được 12 người con, mỗi người là tù trưởng của một bộ lạc, có lãnh thổ riêng nhưng liên hiệp thành một quốc gia Israel – giống như Hoa Kỳ có 50 tiểu bang. Riêng bộ lạc Levi phục vụ trong Đền , không có lãnh thổ riêng nhưng trà trộn với các bộ lạc khác. Các bộ lạc gồm có Judah, Issachar, Zebulun, Reuben, Simeon, Gad, Dan, Asher, Naphtali, Benjamin, Ephraim, Manasseh. Hai bộ lạc sau cùng là do con của Joseph.

Jacob


Danh từ Jew dịch là Do Thái  dùng để chỉ dân của bộ lạc Judah chứ không phải của quốc gia Israel nhưng vì Judah là một bộ lạc trong quốc gia Israel nên người trong bộ lạc Judah Do Thái cũng có thể coi như công dân của Israel, như người tb California được coi là người HK.

Sau triều đại Solomon (c. 971-1011 TK = trước Kitô)

Triều đại Solomon


Triều đại Solomon

vương quốc Israel phân làm hai, vương quốc Judah gồm 2 bộ lạc (Judah và Benjamin) thủ đô Jerusalem ở miền nam và Nhà Joseph gồm 10 bộ lạc còn lại ở miền bắc vẫn giữ quốc hiệu là Israel đóng đô ở Samaria.

Assyria

Trong khoảng từ năm 721 TK đến 718 TK, Israel bị vua Assyria là Shalmaneser xâm lăng. Dân Israel bị đưa đi đầy ở Assyria vùng duyên hải phía nam Biển Caspian và biệt tích luôn không còn bao giờ nghe nói đến nữa. Có sự trùng hợp là người ta tìm thấy xuất xứ của các dân tộc tây bắc Âu Châu, Celt và Scythia



Celt
Scythia 



(Trung Hoa dịch là Sai hay Saka) tại cùng vùng và cùng thời kỳ dân Israel bị đầy đến.

Khoảng năm 586TK, vương quốc Judah bị vua Nebuchadnezzar II (c 634–562 TK), nổi tiếng vì đã tạo ra vườn treo Babylon, xâm lăng và dân bị đầy đi Babylon,


khi được hồi hương dưới thời đế quốc La Mã, quốc hiệu đổi ra theo tiếng Hi Lạp là Judea, được độc lập cho đến năm 63 TK, thành một tỉnh của đế quốc La Mã (6-41,
Pontius Pilatus làm thái thú từ năm 26 đến 36, xử Jesus ),
(6-41, Pontius Pilatus làm thái thú từ năm 26 đến 36, xử Jesus )



đặt dưới quyền cai trị của Herod Agrippa (41-44), thành một tỉnh của La Mã (44-48), rồi của Herod Agrippa II (48-100), nổi loạn lần thứ nhất (66-70), đền Jerusalem bị phá hủy (70), thành một tỉnh của La Mã (từ 100 trở đi), nổi loạn lần thứ hai (115-117), lần thứ ba do Simon Bar Kokhba (132-135),

Đế Chế La Mã Thần Thánh - Holy Roman Empire 


Hoàng đế Hadrian đổi tên Judea thành Syria Palaestina (135).
Hoàng đế Hadrian


Cuộc phiêu lưu Do Thái (dân Judea, không phải Israel) khởi sự vài trăm năm sau, khi La Mã không thừa nhận thẩm quyền của Sanhedrin (tối cao pháp viện Do Thái  và không cho người Do Thái cư ngụ tại Jerusalem nữa. Một số lớn định cư tại vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay), còn lại tản mát quanh Địa Trung Hải, vùng duyên hải từ Hi Lạp đến Ai Cập (vùng trăng lưỡi liềm trù phú = Levant Fertile), Tiểu Á Tế Á, Ý và La Mã. Một số ít lang thang sang tận xứ Gaul (Pháp ngày nay), Tây Ban Nha và Bắc Phi Châu. Cho đến năm 212 hoàng đế La Mã Caracalla ban quốc tịch La Mã cho mọi người tự do, họ mới được hưởng quyền này.

Hoàng đế La Mã Caracalla 


Sau khi nổi loạn, họ phải trả thuế thân cho đến năm 363 mới được hoàng đế cuối cùng của đế quốc La Mã Julian (355-363) miễn cho. Họ được tự do lập các hệ thống văn hóa và tham gia vào các nghề nghiệp địa phương. Thời ấy đa số quần chúng mù chữ, nam giới Do Thái theo luật phải đọc được Talmud nên phải đi học, do đó biết chữ nên lợi thế hơn dân địa phương trong doanh nghiệp, nhất là tại Lưỡng Hà, thành phố Baghdad, họ nắm hầu hết các hoạt động tài chánh cũng như sau này tại các đô thị Ashkenazi. Ở Palestine và Lưỡng Hà người Do Thái còn biết canh tác, nhưng tại các cộng đồng di tản (diaspora), vì không còn đất, họ quên nghề nông, chỉ chuyên về buôn bán, nhất là buôn tiền, nhờ liên lạc và di chuyển dễ dàng giữa các cộng đồng của họ.


Sang thế kỷ V những tộc Visigoth, Frank, Lombard, Vandal thuộc chủng Nhật Nhĩ Man xâm lăng miền tây đế quốc La Mã khiến đế quốc này yếu dần đi, người Do Thái tản sang vùng Cologne và Trier và vùng ngày nay là Pháp. Năm 629 Do Thái bị vua tộc Frank là Dagobert I (629-634) đuổi khỏi vương quốc Merovingian lại còn phải đối phó với ác cảm của La Mã. Từ 380, khi Christianity thành quốc giáo của La Mã và Constantinople, họ ngày càng bị kỳ thị và đối xử tàn nhẫn. Khoảng 800, Charlemagne bành trướng đế quốc Frank sang Ý, La Mã và Tây Âu, cho dân Do Thái được tự do buôn bán. Họ hầu như độc quyền cho vay lãi, vì Giáo Chủ La Mã cấm dân làm việc này.

Visigoth xâm chiếm La Mã

Chủng tộc Frank
Chủng tộc Vandal




Vì nhu cầu buôn bán, dân Do Thái lang bạt khắp nơi, pha giống với các dân bản địa, chịu ảnh hưởng chính trị, văn hóa, môi trường địa phương, nhưng nếu do một phụ nữ Do Thái sinh ra thì vẫn được coi là Do Thái Chính Gốc dù là Do Thái Lai.
Họ được phân biệt thành các nhóm như

Do Thái Ấn Độ

Romaniote (Do Thái Hy Lạp)


Teimanim (Do Thái Yemen và Oman)

 Do Thái Kaifeng ( Khai Phong )… 


không thể kể xiết, nên được gom vào thành mấy loại chính:

Sephardim (Hispanic/Iberia = Tây Ban Nha)

Mizrahim (Đông phương gồm cả Bắc Phi, Cao Gia Sách, Trung Đông: Ai Cập, Iraq, Lebanon, Libya, Syria, Georgia, Kurd, Berber, Bảo… ) 


và mạnh nhất là Ashkenazim ( Nhật Nhĩ Man = Người Đức Cổ ) .


Người Nhật Nhĩ Man (có nghĩa là lang thang) vốn là một dân tộc Thổ bán du mục hậu duệ của bộ lạc Ashina, xuất phát từ Mông Cổ đến thế kỷ VII lập ra một khán quốc (khaganate) gọi là Nhật Nhĩ Man độc lập tại vùng Bắc Cao Gia Sách (Caucasus) dọc bờ biển Lý Hải (Caspian Sea), phồn thịnh từ năm 650 đến 1016 nhờ giao thương với người Tư Lạp Phu, Byzance (miền đông đế quốc La Mã, sau thành Constantinople), Alan (Bretagne), Magyar (Hung Gia Lợi). Họ có công chặn Ả Rập vào thế kỷ VIII, nếu không bây giờ cả Đông Âu đã theo Islam (*).

Đế quốc Đông La Mã gọi là đế quốc Byzantine có 20 triều đại từ năm 306 đến 1453. Triều đại  thứ 7 là triều đại Heraclian (610-711) do tướng Heraclius (575-641) thành lập, hoàng đế cuối cùng là Heraclius   trị vì 685-695 rồi 705-711. Ông là con của hoàng đế Constantine IV (668-685) và hoàng hậu Anastasia. Ông cưới em gái Đại Hãn Busir Glavan của  Nhật Nhĩ Man, đổi tên bà thành Theodora.

Chiến Thần Byzantine



Triều đại thứ 9 (717-802) gọi là triều đại Isaurian (717-802) do hoàng đế Leo III (685-741) còn gọi là Leo the Isaurian (Isauria là Syria ngày nay) thành lập, tháng 8.720 cho thái tử (718-775) tham chính. Thái tử sau thành hoàng đế Constantine V (741-775). Sau khi quân Nhật Nhĩ Man chiến thắng Ả Rập, để làm thân, Leo III cầu hôn cho thái tử lúc ấy mới 14 tuổi cưới công chúa Tzitzak con của đại hãn Nhật Nhĩ Man của Bihar, xứ rộng nhất và đông dân nhất ở miền đông Ấn Độ có con sông Hằng chảy qua, gồm những xứ Đức Phật Thích Ca từng sinh sống như Anga, Videha, Magadha, Vaishali. Áo cưới của cô dâu sau thành thời trang cho nam tử Constantinople mang tên tzitzakion. Năm 732 Tzitzak đổi tên là Irene (nghĩa là Hòa Bình). Con của họ sinh năm 750 lên ngôi hoàng đế  hiệu là Leo IV (775-780) biệt hiệu là Leo người Nhật Nhĩ Man.

Đức Phật Thích Ca 

Sông Hằng Ấn Độ


Như vậy trễ nhất là vào thế kỷ VIII dân tộc Nhật Nhĩ Man đã có chứng tích trong lịch sử. Nguyên thủy người Nhật Nhĩ Man theo Shamanism Tengri (**), sau vì bị đế quốc Byzantine ép theo Christianity và các vương quốc Ả Rập ép theo Islam , đến thế kỷ VIII hay IX, để tìm một lối thoát cho cảnh một cổ đôi tròng này, họ chọn một giải pháp hay nhất là không theo cả Christianity lẫn Islam mà theo Judaism , lấy nó làm quốc giáo.



Giữa 965 và 969 họ bị nhiều dân tộc khác như Rus, Kipchak và cuối cùng là Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan: 1162-1227) tiêu diệt gần hết, nay không còn là một chủng tộc có văn hóa riêng biệt nữa.

Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan: 1162-1227)


Số còn sót chạy lên Ba Lan qua Ukraine thành cái nôi của Do Thái Tây phương, một hỗn hợp chủng Mông, Hung, Thổ (Duy Ngô Nhĩ và Magyar) tự nhận là Do Thái Ashkenazi nghĩa là Do Thái Nhật Nhĩ Man ( Nhật Nhĩ Man là Người Đức Cổ ), định cư dọc sông Rhine từ Alsace ngược lên. Từ ngữ Ashkenazi dẫn xuất từ khóm chữ Hi Bá Lai “nusach Ashkenz” nghĩa là  (nusach) của người Do Thái Ashkenazi ghi trong sách (siddur) của họ. Vào đầu thế kỷ XII, họ thành những gia đình thế lực nhất tại Ý, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Hòa Lan, Hy Lạp. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX một số khác đến sinh sống tại Tây Âu, Hung Gia Lợi, Ba Lan, Belarus, Lithuania, Ukraine và Nga. Tại Nga cộng đồng Nhật Nhĩ Man chiếm một vùng rộng ngang với Thụy Sĩ ở Birobidjan, phía đông Tây Bá Lợi Á, bao bọc bởi con sông Ô Hứa A Mẫu Hà (Amur Darya), Trung Hoa và Mông Cổ, năm 1934 được Liên Bang Xô Viết công nhận là Khu Tự Trị (Okrug) Birobidjan Yevrei, nói tiếng Yiddish, một thứ Đức ngữ pha tiếng Hi Bá Lai, do đó tính chất Do Thái Ashkenazi gọi là Yiddishkeit. Dĩ nhiên họ nói cả tiếng Nga.

Một số khác chạy sang Tây Ban Nha định cư đến tk XV bị trục xuất và tản mát sinh sống tại các quốc gia ven bờ Địa Trung Hải, vùng Ba Nhĩ Cán (Balkan) và Tây Âu. Họ nói thứ tiếng Tây Ban Nha lai Hi Bá Lai gọi là Ladino, vẩn giữ phong tục tập quán của họ. Một nhánh Nhật Nhĩ Man di cư sang Trung Hoa và Nhật Bản .

Nếu bạn nhìn vào nhiều bộ lạc Israel tản mát ngày nay, họ gồm Đức, Pháp, Anh, Mỹ và những người khác… những chủng tộc da trắng trên thế giới… bộ lạc Manasseh đa số ở Mỹ, Ephraim ở Anh, Reuben ở Pháp, Dan ở Hi Lạp, vv…


Nhà Rothschild

Nhà Rothschild bảo họ là Do Thái  thực ra họ là Nhật Nhĩ Man  Nguyên quán của họ là Nhật Nhĩ Man  một quốc gia kẹp giữa Hắc Hải và Lý Hải phần lớn ngày nay là Georgia. Họ tự nhận là Do Thái vì người Nhật Nhĩ Man theo chỉ thị của Vua theo văn hóa Do Thái từ năm 740, nhưng dĩ nhiên họ không thể hoán chuyển các gene Mông Cổ Á Châu của họ thành các gene Do Thái.


Họ không thể hoán chuyển các gene Mông Cổ Á Châu của họ thành các gene Do Thái.

Họ không thể hoán chuyển các gene Mông Cổ Á Châu của họ thành các gene Do Thái.

Họ không thể hoán chuyển các gene Mông Cổ Á Châu của họ thành các gene Do Thái.

Họ không thể hoán chuyển các gene Mông Cổ Á Châu của họ thành các gene Do Thái.

 Họ không thể hoán chuyển các gene Mông Cổ Á Châu của họ thành các gene Do Thái.


Khoảng 90% người trên thế giới tự xưng là Do Thái thực ra là Nhật Nhĩ Man .
Nhưng họ thích được gọi là người Do Thái Ashkenazi.

Do Thái Ashkanezi chiếm đến 92% dân số Do Thái. Tại Mỹ có khoảng 5.3 triệu Do Thái  Họ chiếm 27% giải Nobel Khoa Học và 25 giải ACM Turing Awards
(tương đương Nobel về khoa học computer máy vi tính).



Chú thích

(**) Tengri Shamanism là một văn hóa của dân Hung Nô, Mông cổ, Thổ, Hung, Bảo. Tengri có nghĩa là trời (sky), Shaman dịch là vu hích (nam) hay nữ vu (nữ). Shamanism tạm dịch là Khiêu Thần .


Nguồn tham khảo