Pages

Wednesday, November 22, 2017

Do Thái Đất Tổ Công Nghệ

Israel Tổ Quốc của người Do Thái trở thành Đất Tổ của nhiều gã Công Nghệ Khổng Lồ ? Vì sao Israel trở thành 'đất tổ' của nhiều gã công nghệ khổng lồ ?

Google, Facebook, Microsoft, Intel nằm trong số hơn 300 công ty đa quốc gia chọn Israel làm nơi 'đóng đô' các cơ sở nghiên cứu và phát triển (R&D). Lý do nào đã khiến Israel trở thành mảnh đất màu mỡ như vậy ?

Theo Business Insider, những thắc mắc này đã được bốn ông lớn trong làng công nghệ lý giải tại sự kiện DLD Innovation diễn ra ở Tel Aviv tuần trước.

Google

Google chính thức mở văn phòng tại Israel vào năm 2006 khi gã khổng lồ tìm kiếm vẫn chỉ là cái tên nhỏ bé với 5 năm tuổi đời. Hiện nay, Google có hơn 600 kỹ sư tại đây và làm việc trên các ứng dụng cốt lõi gồm Search, Maps, và Live Results. Khoảng một nửa trong số các kỹ sư chủ chốt của Google ở Israel đã tốt nghiệp Đại học Tel Aviv.

Theo Don Dodge, đối tác phát triển của Google: "Israel có một nguồn các tài năng tuyệt vời. Đây là xứ sở của các công ty khởi nghiệp (Startup)”. Cũng theo Dodge, có nhiều kỹ sư lương rẻ hơn ở Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng thường không đủ tốt như ở Israel.

Google hiện có một trung tâm chuyên dụng ở Tel Aviv được gọi là Campus, cung cấp cho các doanh nghiệp một nơi để khởi nghiệp và phát triển. Khi Google thấy tiềm năng phát triển, họ sẽ cố gắng mua lại, tiếp cận tài năng và chuyên gia của các startup này cho các sản phẩm và dịch vụ trong tương lai. Theo cách này, Google đã mua lại công ty SlickLogin chuyên tích hợp các công nghệ âm thanh vào quá trình xác minh hai bước của hãng.

Hiện nay, Google đầu tư rất nhiều vào các công ty Israel và đã mua lại được 5 trong số đó. Waze là thương vụ lớn nhất với mức giá 1 tỉ USD.

Facebook

Theo Adi Soffer Teeni, Giám đốc điều hành Facebook tại Israel, con người chính là lý do khiến Israel trở thành "đất tổ'' cho các hãng công nghệ: “Có quá nhiều tài năng tuyệt vời ở đây. Các công ty đa quốc gia đến đây với các trung tâm R&D lớn và tuyển dụng những người có tư duy sáng tạo". Ngoài ra, tâm lý và văn hóa tại trung tâm R&D của Facebook ở Israel cũng có nét tương đồng ở thung lũng Silicon (Mỹ), nơi các kỹ sư ''di chuyển nhanh và phá vỡ mọi thứ'' trong khi ''mặc quần short và mang dép''.

Hiện nay, đội ngũ kỹ thuật của Facebook tại Israel đóng vai trò quan trọng trong những sản phẩm mới nhất của Facebook, nhưngkhông được cô tiết lộ.

Intel

Roy Ramon, Giám đốc quản lý Intel Ingenuity Partner Programme, tuyên bố Intel là một trong những công ty lớn nhất ở Israel, với 11.000 nhân viên trên khắp cả nước. Trung tâm đầu tiên của Intel tại Israel được mở cách đây gần 40 năm.

Theo ông, điểm khác biệt của Israel đến từ sự táo bạo: "Khi công ty của bạn gặp gỡ với một công ty Israel, họ bước vào và nói với các kỹ sư tất cả những gì đang làm đều là sai lầm. Họ khởi hành lại mọi thứ trong khi các kỹ sư này đã và đang làm công việc trong nhiều năm và họ là các chuyên gia trên thế giới. Các công ty khởi nghiệp đủ mạnh mẽ để đến với một gã khổng lồ như Intel và nói rằng bạn đang làm việc đó hoàn toàn sai. Đây là một trong những văn hóa mà bạn không thể có được ở bất cứ nơi nào trên thế giới".

Microsoft

Zach Weisfeld, Tổng giám đốc của Microsoft Global Accelerators, cho biết hãng đã phát triển đội ngũ R&D ở Israel khoảng 1.000 người kể từ khi mở văn phòng đầu tiên tại nước này cách đây 25 năm. Theo Weisfeld, Israel là nơi có các công nghệ sâu, nhiều công ty startup dẫn đầu về trí thông minh nhân tạo ứng dụng trong nông nghiệp, robot, sức khỏe và họ có thể mua lại các công ty này.

Weisfeld cho biết thêm: "Có một nét văn hóa, sự hiểu biết thị trường và hiểu biết kinh doanh có thể còn thô sơ ở các công ty startup Israel vào lúc bắt đầu nhưng nếu bạn đặt họ vào đúng chỗ, họ sẽ trở nên không thể ngăn cản”.

Amazon và Apple cũng đang phát triển các công nghệ mới tại các trung tâm R&D ở Israel dù có lặng lẽ hơn


Trung tâm của Apple nằm cách Tel Aviv khoảng 15km về phía bắc, nơi các kỹ sư của nhà táo đang nghiên cứu phát triển phần cứng như chip, lưu trữ, máy ảnh, và các công nghệ không dây. Văn phòng được thành lập sau khi Apple mua lại hai startup: công ty thiết kế bộ nhớ flash Anobit vào năm 2012 và PrimeSense chuyên phát triển cảm biến 3D trong năm 2013. Hiện nay, văn phòng Herzliya ở Israel là cơ sở R&D lớn thứ hai trên thế giới của Apple.

Trong khi đó, Amazon cũng có một trung tâm R&D tại Israel, nhưng từ chối cho biết số lượng nhân viên. Họ làm việc cho Amazon Web Services, kinh doanh điện toán đám mây… Amazon cũng đã mua lại công ty sản xuất chip Israel là Annapurna Labs vào năm 2015 với mức giá khoảng 350 triệu USD.

Theo thanh niên Hiếu Trung

Tuesday, November 24, 2015

Vì Sao Người Do Thái Khôn Ngoan ?

Vì Sao Người Do Thái Khôn Ngoan  ?

Bài viết dịch từ một trang blog của một tác giả người Do Thái Chính Cống. Tác giả là một Kỹ Sư Điện Tử đã nghỉ hưu với 58 năm nghiên cứu Khoa Học. Tác giả đã học dưới mái trường Đại Học trong 16 năm để nghiên cứu các ngành công nghệ kỹ sư, khoa học tổng hợp, Tâm Lý Học, Xã Hội Học, Kinh Doanh, và các ngành học lãnh vực liên quan. Tác giả cũng là một Sĩ Quan Quân Đội Hoa Kỳ đã từng sống ở ba lục địa, đã từng sống ở 20 quốc gia và 39 tiểu bang của nước Mỹ. Tác giả đang học ngoại ngữ thứ năm, tác giả có hai quốc tịch là Mỹ và Do Thái. Tác giả đã học Kinh Thánh trong suốt 68 năm.

Đã bao giờ bạn ngạc nhiên khi người Do Thái có nhiều giải Nobel chênh lệch với tổng dân số nhỏ bé của họ ? Vì sao có nhiều bác sĩ người Do Thái, luật sư người Do Thái, nhà khoa học người Do Thái, kỹ sư người Do Thái? Có một nguyên nhân rất chính đáng nhưng không quá rõ ràng.

Người Do Thái còn được biết đến với tên gọi khác là Dân tộc của Sách. Đã hàng ngàn năm trôi qua người Do Thái đã học một cuộn sách phức tạp nhất, đó chính là Kinh Thánh.

Tôi kể một câu chuyện cho các bạn nghe để làm ví dụ cho điểm nhấn của tôi. Khi gia đình tôi lập tức thực hành tôn giáo, con trai 18 tuổi của tôi là sinh viên Đại Học. Cậu bé gặp tôi và hỏi rằng là cậu bé có được phép bỏ học Đại Học để đi học ở Chủng viện Do Thái ( trường học đặc biệt chỉ dành riêng cho người Do Thái ). Tôi đã rất tự hào vì cảm giác hướng tới Thiên Chúa và đạo Do Thái Giáo của cậu bé, và tôi đã ngay lập tức đồng ý - tôi gửi cậu bé vào một trường Chủng viện Do Thái ở Giê ru sa lem - đó là một trải nghiệm thực tế đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời của con trai tôi và ngay cả chính bản thân tôi ( tôi đã đến thăm cậu bé và khám phá ra rằng quốc gia Do Thái chính là ngôi nhà thật sự của tôi). Cảm ơn, Thiên Chúa. Trẻ em rất là hạnh phúc với niềm vui của cuộc sống. Chúng tôi đã liều lĩnh tạo ra sự thay đổi táo bạo này mặc dù cậu bé chỉ thiếu 4 điểm tín chỉ đại học để hoàn thành bằng cấp Đại Học. ( Trong hệ thống Đại Học ở Mỹ, hoàn thành mỗi lớp học thì sinh viên sẽ có điểm tín chỉ đại học, tùy theo độ khó của mỗi lớp mà số điểm tín chỉ đại học của các lớp khác nhau, lớp càng khó thì điểm tín chỉ đại học càng cao ). Sau một năm ở Chủng viện Do Thái, tôi điều tra sự khả thi để nhận được tín chỉ đại học cho việc học ở Chủng viện Do Thái của cậu bé. Có một tổ chức ở Nữu Ước sẽ đánh giá và công nhận các tín chỉ học hành. Các trường học Chủng viện Do Thái đã quen thuộc với việc này và xây dựng một bảng điểm cho những nỗ lực của con trai tôi qua năm tháng. Chủng viện Do Thái cho cậu bé 18 điểm tín chỉ đại học qua các môn học như giáo dục tổng hợp, triết học, lịch sử, và ngôn ngữ. Khi trình bày cho tổ chức kiểm định chất lượng, vượt quá 4 điểm tín chỉ đại học mà cậu bé cần để vào các trường Đại Học khác, họ cho cậu bé 36 điểm tín chỉ đại học. Họ cũng nói với chúng tôi biết các điểm tín chỉ đại học cần thiết để được chấp nhận ở Đại học Harvard, Đại học Yale, Đại học Pennsylvania và Đại học Do Thái. Họ giải thích với chúng tôi rằng họ là hoàn toàn nhận thức được cường độ học tập kịch liệt xảy ra tại các Chủng viện Do Thái. Họ cũng đã nhận thức được sự tận tâm và sẵn sàng học hỏi mà các học sinh ở Chủng viện Do Thái có. Có lẽ không có bất cứ trường đại học nào trên thế giới có cường độ học hành kịch liệt chuyên sâu hơn một Chủng viện Do Thái. Tôi đã học đại học tất cả thời gian và bán thời gian trong 16 năm bao gồm các nghiên cứu sau đại học. Tôi chưa bao giờ thấy mức độ của lòng sùng mộ đối việc học hành như tôi đã trải qua trong các Chủng viện Do Thái mà tôi đã tham gia. Bằng cách này, con trai tôi được chứng nhận bằng cấp của cậu bé.

Có những nghiên cứu về trí thông minh của người Do Thái và đã cho ra những kết quả rất đáng ngạc nhiên. Họ lập luận một cách thuyết phục rằng "trí thông minh siêu cao của người Do Thái là có căn cứ về di truyền học" hơn là yếu tố môi trường. Mặc dù việc học hành ở các Chủng viện Do Thái rất là dữ dội và ngay cả học những môn học mở rộng khác - cả yếu tố như nhà của người Do Thái có rất nhiều sách (tự học ở nhà), họ kết luận rằng trí thông minh của người Do Thái chủ yếu là do sự thừa hưởng của gien di truyền. Người Do thái, đặc biệt là người Do Thái Nhật Nhĩ Man sinh sống ở miền Trung và Tây Âu, đã thực hành việc chọn giống trong nhiều thế kỷ thường liên quan đến giao phối có chọn lọc và kết hợp gien để sản xuất những trẻ em có trí thông minh cao siêu.

Kinh Thánh Do Thái Luật Nói, Pesachim 49a ghi rằng "Một người đàn ông nên bán tất cả tài sản gia tài để cho con trai của ông cưới được con gái của một nhà bác học thông thái ( scholar trong tiếng Anh nghĩa là nhà bác học, nhà thông thái, học giả )." Vào thời trung cổ trong cộng đồng Do Thái, những người đàn ông thông minh nhất trở thành Thầy Đạo, và những người đàn ông có địa vị cao trong xã hội được kết hôn với con gái của những nhà thương gia thành công, người Do Thái chọn những người có trí thông minh xuất chúng. Phụ nữ người Do Thái đã trở thành những cô giáo dạy dỗ con cái ở nhà ( giáo dục tại nhà ) và đảm bảo chắc chắn rằng con cái trẻ em của họ được giáo dục đúng cách, và trẻ em có khả năng tự học.

Vào thời gian đó, những người Kitô hữu thì lại làm điều ngược lại: các linh mục, thầy tu, tu sĩ, nữ tu ma sơ của giáo hội Công Giáo La Mã, là những người thông minh nhất, sáng suốt nhất trong cộng đồng của họ, đã bị cấm kết hôn, do đó họ bắt buột những người có gien thông minh phải chấp hành cuộc sống độc thân. Vì vậy những nguồn gien thông minh bị loại bỏ.

Hầu hết các quốc gia mà người Do Thái di cư đến, những dân tộc đã may mắn sở hữu được sự thông minh và khéo léo của người Do Thái, nhưng họ rất sợ hãi khi đưa công việc cho người Do Thái làm. Vì họ rất sợ sự thống trị và chiếm hữu tất cả các doanh nghiệp của người Do Thái. Cũng chính là những người ngăn chặn người Do Thái đạt được sự thành công trong kinh doanh và con đường học vấn, đã giúp trau dồi sự hiểu biết trong kinh doanh của Người Do Thái. Vì sao? Người Do Thái luôn tự bơi và bị cưỡng bức, bị loại bỏ những nhu cầu cần thiết và sống còn, đã phát triển trí thông minh theo cách khác biệt của người Do Thái. Người Do Thái tự tạo việc làm, tự học và, trong nhiều trường hợp, tạo ra những Tỉnh Tự Trị ( người Do Thái tạo ra những "quốc gia nhỏ" không phụ thuộc vào chính quyền nước sở tại ). "Những nhu cầu cần thiết là Mẹ của Sự Sáng Tạo" một câu nói diễn tả lịch sử của người Do Thái.

Kể từ khi tôi phân tích những sự thật tuyệt đối, tôi đã bất cẩn quên nói tới ý muốn của Thiên Chúa. Người Do Thái bây giờ, và trải qua các giai đoạn lịch sử, đã được thiết kế và lập trình để hoàn thánh ý muốn của Thiên Chúa. Sự thông minh của dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn là điều hoàn toàn cần thiết để mang thông điệp của Thiên Chúa đến tới thế giới. Việc sửa chữa thế giới phụ thuộc vào người được giao sứ mạng để hoàn thành hiện thực. Các stereotype, sự ghét người Do Thái, những vụ tấn công vào người Do Thái, tất cả những điều đó đều là kết quả của sự thất bại, tuyệt vọng, lòng ganh tị của dân ngoại. Đó cũng chính là thông điệp của Thiên Chúa đã nói rằng khi Gia-cóp học hành Kinh Thánh Do Thái, Ê Sau không thể nào chạm vào người Gia-cóp. Một thông điệp mạnh mẽ gửi tới người Do Thái trong suốt lịch sử để chu toàn bổn phận của người Do Thái là học Kinh Thánh Do Thái, và không được phép bị đồng hóa trong xã hội của người dân ngoại ( các dân tộc khác ). Thiên Chúa có mục đích để làm cho cuộc sống của một người Do Thái trở nên rất khó khăn khi một người Do Thái đã muốn được hòa tan ( bị đồng hóa ) trong thế giới của dân ngoại. Người Do Thái đã được mời và được chào đón đến nhiều quốc gia miễn là người Do Thái sống cách biệt khỏi người dân địa phương. Khi người Do Thái nói "Tôi thích cách ăn mặc của họ, tôi thích thức ăn của họ, tôi thích công việc của họ, tôi muốn giáo dục thế tục của họ." Thiên Chúa đã làm cho những người dân bản xứ ở quốc gia mà người Do Thái đang sinh sống, Thiên Chúa đã làm cho những người bản xứ chống lại người Do Thái. Tôi đã từng sống ở quốc gia Đức trong 6 năm, ich habe viel Deutsch gelernt, tôi nhớ một bài phát biểu mà tôi nghe được từ tất cả các nguồn của hitler. hitler nói "Tôi không muốn các người đồng hóa với người dân Đức." Ai đã thực sự gửi thông điệp đó ? Ngay cả ở quốc gia Do Thái, cộng đồng hạnh phúc nhất là những người Do Thái Chính Cống và không có người Dân Ngoại hoặc thậm chí không có các hành vi dân ngoại ở giữa họ. Khi chúng tôi tuân thủ thông điệp quan trọng từ Thiên Chúa, không có tổn thất nào sẽ đến với bất kỳ Người Do Thái và niềm hạnh phúc đầy đủ đã được tiết lộ. Điều đó đã xảy ra với tôi, gia đình của tôi và toàn bộ thành phố nơi tôi đang sống. Cảm ơn Ngài, Thiên Chúa.


Thursday, November 28, 2013

Friday, November 1, 2013

Những Cảnh Đầy Đọa Và Tàn Sát Người Do Thái – Nguyễn Hiến Lê

Những Cảnh Đầy Đọa Và Tàn Sát Người Do Thái – Nguyễn Hiến Lê


Trước hết, chúng tôi xin kể thân phận người Do Thái ở các xứ theo Hồi giáo. Xét chung thì ở các xứ này, số người Do Thái không đông (cả thảy chỉ độ một hai triệu) và tình cảnh của họ không đến nỗi bi đát như ở châu Âu.

Theo Clara Malraux trong “Civilisation du Kibboutz” (Editions Gonthier – 1964) thì tình cảnh của họ như sau:

Tại Ba Tư; năm 1875: Hễ một người Do Thái đụng tới một vật gì thì vật đó hoá ra dơ dáy; vậy Do Thái ở Ba Tư cũng như hạng tiện dân (intouchable) ở Ấn Độ. Người Do Thái không được mở quán tạp hoá, trừ trong tỉnh Hamadan.
  Ngày mưa họ không được ra khỏi khu vực riêng của họ – khu đó gọi là mellah, cũng tựa như ghetto ở châu Âu – vì nếu họ đụng nhằm áo ướt của một người theo Hồi giáo thì người này hoá ra dơ dáy.

Một người Do Thái không được làm chứng và tuyên thệ ở toà án. Một người Hồi giáo giết một người Do Thái thì chỉ phải đền cho thân nhân người bị giết 140 kraus, rồi được tự do; người Do Thái tuyệt nhiên không được chống án.
Tại Maroc, người Do Thái không được pháp luật coi là công dân. Họ ở dưới quyền cai trị của nhà vua, nhà vua muốn xử với họ ra sao thì xử không cần theo luật pháp gì cả, có thể bắt họ làm nô lệ, giết họ cũng được nữa.

Tại Yemen, cho tới khi quốc gia Israel thành lập năm 1948, người Do Thái không được phép lớn tiếng trước mặt một người Hồi giáo, không được cất nhà cao hơn nhà các người Hồi giáo, không được đụng chạm người Hồi giáo, không được cùng bán một món hàng với người Hồi giáo, phải đứng dậy trước mặt một người Hồi giáo. Ngoài ra ngay từ hồi Mohamed (1), người ta đã cấm họ ăn mặc  những màu lợt, mang khí giới, từ lúc mặt trời lặn cho tới lúc mặt trời mọc không được ra khỏi khu riêng của họ; họ bắt buộc phải làm những việc dơ dáy như đổ thùng, có trẻ mồ côi thì phải giao cho nhà cầm quyền để nhà cầm quyền cho nó theo Hồi giáo.

Cũng có khi nhà cửa của họ bị tàn phá, thân họ bị đánh đập, chém giết nhưng đều do những nguyên nhân kinh tế, xã hội, chớ không do nguyên nhân tôn giáo. Và tuyệt nhiên không có những phong trào diệt chủng như ở châu Âu.

Sở dĩ vậy vì Hồi giáo không kỳ thị Do Thái giáo mạnh mẽ như Ki-tô giáo kỳ thị (2). Do Thái và Hồi giáo chấp nhận được nhau, đôi khi còn góp sức với nhau để chống kẻ thù chung nữa, như trong những thời Hồi giáo đi xâm chiếm các nước khác, đặc biệt là chiếm vài nước ở châu Âu, như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha.

***

Tại các xứ theo Ki-tô giáo

Tại các xứ theo Ki-tô giáo, nhất là ở châu Âu thân phận người Do Thái điêu đứng hơn nhiều, không thể tưởng tượng nổi.

Suốt mười mấy thế kỷ, không ở nơi này thì ở nơi khác, lúc nào cũng có những người Do Thái bị cái cảnh: “ghetto”, “pogrom”, hoả hình, lò thiêu, phải mang trên áo hình bánh xe hoặc hình ngôi sao vàng (một ngôi sao sáu cánh gọi là ngôi sao David) như tội nhân mang áo dấu: bị trục xuất, hoặc bắt buộc phải từ bỏ tôn giáo của họ mà theo tôn giáo khác: bị trút lên đầu tất cả những tội lỗi mà họ không hề gây ra; bị treo cổ, dìm nước, thọc tiết, thiêu sống… đâu đâu họ cũng gặp những cảnh địa ngục, chỉ vì họ là Do Thái.

Những hồi họ được sống yên ổn nhất thì thân phận của họ cũng chỉ như thân phận một nô lệ, một tên cùi hũi . Người ta cấm họ có bất động sản, thành thử muốn theo nghề nông thì họ chỉ có thể làm nông nô, tá điền. Muốn khá giả họ phải ở châu thành làm thợ kim hoàn, hoặc buôn bán, đổi tiền, cho vay. Giáo hội Ki-tô cấm tín đồ cho vay lấy lãi nên nghề sêt-ti, nghề ngân hàng gần thành độc quyền của họ. Cha truyền con nối, nhờ có kinh nghiệm của những thế hệ trước, họ làm giàu rất mau, chính vì giàu mà gây nhiều kẻ thù.

Người ta bắt họ phải sống trong những khu biệt lập gọi là ghetto, ban đêm không được ra khỏi khu. Những ghetto nổi danh nhất là ghetto Venise thành lập năm 1516, trong đó họ sống chui rúc như trong những hang chuột, chịu đủ thứ cấm đoán, mất hết tự do.

Sự học hành của họ bị hạn chế. Ngay đầu thế kỷ XX  ở Nga, trẻ con Do Thái cũng khó kiếm được một chỗ học. Chính phủ Nga không ra mặt cấm hẳn mà dùng một chính sách xảo trá, ra một sắc lệnh cho các trường Trung học chỉ được thu một số học sinh Do Thái bằng 10% số học sinh theo Ki-tô giáo, trong khi châu thành nào có người Do Thái thì số dân Do Thái cũng chiếm từ 30 đến 80% trong số dân vì họ bắt buộc phải sống chung gần như trong những ghettocủa Đức, Ba Lan.

Nếu chẳng may trong nước có một tai hoạ gì, bất kể là do tự nhiên hoặc do nhân sự, thì người ta trút hết cả tội lỗi lên đầu lên cổ họ. Mất mùa mà đói kém ư là tại tụi Do Thái đã làm cho Thượng đế nổi giận; bệnh dịch hạch phát sinh ra ư, chết hàng triệu người ư, cũng tại tụi Do Thái nữa; chiến tranh mà bại ư, tại tụi Do Thái phản trắc, ngầm cấu kết với địch; có đảo chánh ư, cũng tại âm mưu của Do Thái.

Người ta bắt họ đóng thuế thật nặng, vắt họ như vắt bò sữa, có khi tịch thu tài sản rồi đẩy họ ra khỏi cõi, thời nào cũng vậy, chớ không phải chỉ trong thời Đức Quốc Xã, thế chiến vừa rồi. Tình cảnh đó bất công đến nỗi một người trong Công giáo đã phải thốt ra câu này: “Nếu chỉ cần ghét tụi Do Thái cũng đủ là một người công giáo ngoan đạo thì hết thảy chúng ta đều là những công giáo ngoan đạo”.

***
Các cuộc tàn sát Do Thái

Từ hồi viễn chinh của Thập tự quân, thế kỷ XI cuộc tàn sát Do Thái mới thực sự bắt đầu.
Năm 1096 người ta rủ nhau đi giải thoát mộ của Chúa Ki-tô, và còn có gì hữu lý đứng trước khi làm việc thiêng liêng đó, phải trả thù những kẻ mà non 1100 trước đã chịu trách nhiệm vẽ cái chết của Chúa, đã giết Chúa.

Ở Worms trong hai ngày người ta giết tám trăm người Do Thái; bất kể là đàn ông đàn bà, già trẻ, hễ là Do Thái mà không chịu theo đạo Ki-tô là bị chém giết bằng gươm, bằng giáo, bằng thuổng cuốc.

Ở Mayence, cảnh còn rùng rợn hơn nữa vì người Do Thái chống cự lại, rồi như say máu, họ quay lại giết chinh người cùng đạo với họ, giết cả vợ con, cha mẹ họ! Thật là kinh khủng. Có những bà mẹ đương cho con bú, cầm ngay lấy dao hay gươm cứa cổ con để cho chúng khỏi chết vì tay những người không theo đạo Do Thái. Bảy trăm người chết trong vụ đó.
Cộng hai vụ là một ngàn rưởi mạng. Một ngàn rưởi mạng đó đã tạo cho dân Do Thái một tâm hồn mới: họ biết rằng không thể sống chung được nữa, người ta cũng bắt họ phải đổi đạo thì họ lại càng cương quyết giữ đạo, giữ truyền thống của họ.

Thù oán họ nhứt là một số tín đồ Ki-tô giáo. Người phương Đông chúng ta đọc lịch sử phương Tây không làm sao hiểu nổi cái mối thù non hai ngàn năm của đa số dân chủng châu Âu đối với dân tộc Do Thái. Tôi có cảm tưởng rằng người phương Tây có tinh thần – tôi gần như muốn nói là cái “máu” kỳ thị màu da và tôn giáo. Chỉ ở châu Âu chúng ta mới thấy những chiến tranh tôn giáo dằng dai và kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại; và chỉ ở Mỹ – cũng là gốc Âu nữa – chúng ta mới thấy những vụ tàn sát da đỏ và da đen nối tiếp nhau hàng thế kỷ.
   Người phương Đông chúng ta vẫn thường chém giết nhau vì quyền lợi, vì danh dự, đôi khi cũng vì tín ngưỡng, nhưng cơn giận xong rồi thì thôi, Việt Nam, Trung-hoa, Nhật Bản hay Triều Tiên… lại vui vẻ sống chung với nhau, buôn bán với nhau, gả con gả cháu cho nhau, nhậu nhẹt với nhau, làm thơ tặng nhau, có bao giờ mà thù nhau truyền kiếp như đa số người theo Ki-tô giáo đối với những người theo Do Thái giáo, hoặc đa số người Mỹ da trắng đối với người Mỹ da đen.

Mà hai tôn giáo đó – Do Thái giáo và Ki-tô giáo – vốn là anh em với nhau chứ! Thánh Mẫu Marie và Chúa Ki-tô đều là Do Thái cả. Cả hai đều tuân theo những luật của Moïse, một vĩ nhân của Do Thái. Chúa Ki-tô lại còn giảng đạo trong những giảng đường của Do Thái giáo, môn đệ của Ngài đều là người Do Thái. Người ta bảo các thầy tu và tín đồ Do Thái đứng về phía nhà cầm quyền La Mã mà phản Ngài, nên Ngài mới bị xử tử, và khi Ngài bị đóng đinh trên thánh giá, tụi Do Thái reo: “Nếu chúng ta có tội thì máu hắn cứ rớt lên đầu chúng ta và con cái chúng ta”, rồi người ta dựng lên một thuyết kỳ dị rằng dân tộc giết Chúa sẽ đời đời kiếp kiếp bị một hình phạt rất nặng là lang thang hoài trên thế giới để chuộc tội.

Những điều tôi mới trình bày ở trên đều rút trong bài “L’antisemitisme, plaie des temps moderne” của Léon Poliakov đăng trong Le Courrier de l’Unesco số đặc biệt tháng mười năm 1960.

Trong số tháng giêng năm 1961, cũng tạp chí đó, linh mục Congar, viết một bài trả lời Léon Poliakov, nhan đề là Les chrétiens et l’ antisemitisme, đại ý nói rằng ý kiến của Léon Poliakov có phần đúng, nhưng có vài điểm ông không đồng ý, chẳng hạn:
1. Người Công giáo ghét người Do Thái không phải là vô lý: trong bốn thế kỷ đầu sau Tây lịch, người Công giáo bị giết hại rất nhiều vì sự tố cáo của người Do Thái
2. Sự thù oán Do Thái do tôn giáo khác nhau chứ không do óc kỳ thị chủng tộc.
3. Chính người Do Thái tự sống cách biệt với người Công giáo chứ không phải tại người Công giáo dồn họ vào các ghetto.
4. Tư tưởng Công giáo thời xưa không chống riêng gì người Do Thái mà chống hết thảy những người ngoại đạo, Do Thái hay không Do Thái.
5. Trong giới Công giáo cũng có nhiều người bênh vực Do Thái, như Giáo hoàng Pie XI, Pie XII.

Ông Poliakov nhận rằng bốn điều 1, 2, 3, 5 đều đúng và ông cũng nghĩ như Linh mục Congar có khác chỉ là ở tiểu tiết thôi. Nhưng về điểm 4 thì ông giữ ý kiến của ông: rõ ràng là người Do Thái bị người Công giáo ghét một cách đặc biệt vì cái mối thù “giết Chúa” từ hồi xưa.

Người Do Thái có giết Chúa không? Điều đó, chúng tôi không biết. Việc xảy ra đã non hai ngàn năm rồi, nhà khảo cứu nào dám chắc là nắm được sự thực? Nhưng dù rằng Chúa Ki-tô chết vì bị vu oan, bị phản, thì những thầy tu và tín đồ đã phản Ngài cũng không phải là toàn thể dân tộc Do Thái, không phải là toàn thể những người Do Thái có mặt lúc đó nữa. Vả lại thời nào, dân tộc nào mà chẳng có những tăng lữ thối nát hoặc sợ sệt hùa theo chính quyền. Chính Chúa Kitô trước khi tắt thở còn “xin Cha tha thứ cho họ vì họ không biết họ làm gì”, thế thì tại sao người ta lại thù oán cả dân tộc Do Thái, thù lây đến cháu chắt của họ cả mấy chục đời sau nữa?

Sau vụ tàn sát năm 1096 ở châu Âu, tiếp tới các vụ dưới đây:
Năm 1113, “pogrom” đầu tiên ở Kiev, Ukraina ( Nga). Chúng tôi không được biếtpogrom hồi đó kinh khủng ra sao, nhưng đọc những tài liệu mới đây viết về đời cô Golda Meyerson, (bộ trưởng Bộ ngoại giao của Israel hồi nhỏ sống ở Nga) được biết ở cuối thế kỷ XIX, tại Nga, Ba Lan, người Do Thái vẫn còn bị cái hoạ pogrom, pogrom là một tiếng Nga có nghĩa là bạo động phá phách. Thỉnh thoảng dân Nga hay Ba Lan vì một chuyện xích mích gì đó, nổi điên lên rủ nhau từng đoàn hàng mấy trăm người, cầm dao, búa, gươm, gậy vào những khu Do Thái mà khủng bố, đập phá, chém giết vô tội vạ. Cuộc bạo động lan từ tỉnh này qua tỉnh khác, một vài tháng mới dẹp xuống. Dân Do Thái mỗi lần nghe tin một đợt pogrom nổi lên, sợ xanh mặt, đóng kín cửa lại, chặn hai ba lớp, không dám ló mặt ra, hồi hộp đợi từng giờ từng phút, luôn trong mấy ngày, cho bọn hung thần đi qua. Mặc dầu vậy, chủng vẫn tông cửa xông vào, rất ít gia đình Do Thái tránh được.




Chính Chaim Weizmann (2), tổng thống đầu tiên của Israel, trong cuốn Naissance d’Israël (Ganimard 1957) nhắc lại những nỗi kinh khủng của đồng bào ông trong những vụ pogrom năm 1881 và 1903.

Năm 1138 – Bọn Alhomade tàn sát Do Thái ở Tây Ban Nha.
Năm 1182 – 1198 – Vua Philippe Auguste lưu đày tụi Do Thái
Năm 1189 – Viễn chinh lần thứ ba của Thập tự quân. Tàn sát Do Thái ở Anh.
Năm 1215 – Giáo Hoàng Innocent III ra lệnh cho Do Thái phải đeo hình bánh xe nhỏ (rouelle) ở ngực.
1254 – Vua Saint Louis lưu đày Do Thái.
1290 – Do Thái bị trục xuất ra khỏi Anh.
1330-1338 – Do Thái bị tàn sát ở Đức.
1348 – Nhân bệnh dịch hạch hoành hành ở châu Âu, người trút tội lỗi lên đầungười Do Thái và tàn sát họ
1391 – Do Thái bị giết ở Séville và bắt buộc phải cải giáo ở Tây Ban Nha
1394 – Vua Charles VI lại lưu đầy người Do Thái.
1421 – Do Thái bị trục xuất khỏi Vienne.
1492- Do Thái bị trục xuất khõi Tây Ban Nha
1495 – Do Thái bị trục xuất khỏi Lithuanie.
1498 – Do Thái bị trục xuất khỏi Bồ Đào Nha.
1516 – Thành lập ghetto đầu tiên ở Venise.
1563 – 1656 – Do Thái bị tàn sát ở Ukraine, Đức, ba Lan, Áo
1670 – Do Thái bị trục xuất khỏi Vienne
1740- Do Thái ở Prague bị lưu đày.
1768 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Ukraine.
1827 – Nga hoàng Nicolas I bắt buộc các trẻ em Do Thái phải cải giáo.
1866 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Roumanie
1883 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Nga.
1883 – Do Thái bị trục xuất khỏi Moscow.
1894 – Vụ Dreyfus (trong chương sau chúng tôi sẽ kể)
1903 – Một vụ pogrom xảy ra ở Kichinev (Roumanie)
1905 – Nga thua Nhật – Cách mạng nổi lên ở Nga, và người ta lại trút cả tội lên đầu Do Thái do đó có nhiều vụ pogrom xảy ra trong tháng 10.
1919-1921 – Nhiều vụ pogrom xảy ra ở Nga

Bảng liệt kê ở trên, chúng tôi trích trong cuốn Israel của David Catarivas. Dĩ nhiên, ông chỉ ghi những vụ lớn lưu danh trong lịch sử châu Âu thôi, còn những vụ hành hung; giết chóc lẻ tẻ, trong mỗi tỉnh, mỗi làng thì không thể nào chép hết được.

Nhưng tất cả những vụ đó, ngay cả những vụ ở Worms, ở Mayence, thế kỷ XI,cũng không thấm vào đâu so với những vụ tàn sát Do Thái ở Ba Lan và Đức trong thế chiến vừa rồi.


Đã kỳ thị tôn giáo, nay lại thêm kỳ thị chủng tộc

Trước kia người ta thù oán, căm hận nổi điên  lên mà chém giết cho hả, lần này thì Đức Quốc Xã của Hitler tàn sát Do Thái một cách bình tĩnh, có kế hoạch, có tổ chức theo đúng tinh thần khoa học, cho nên ghê gớm rùng rợn vô cùng, không tiền khóang hậu trong lịch sử nhân loại.

Người ta muốn tận diệt người Do Thái và như vậy, nhen lại lòng kỳ thị tôn giáo dĩ nhiên, là không đủ, rất nhiều người Do Thái đã cải giáo rồi, lấy lẽ gì mà giết họ. Cho nên người ta phải gây thêm lòng kỳ thị chủng tộc: hễ tổ tiên ba bốn mươi đời là Do Thái thì cũng bị giết, bất kỳ là đã cải giáo hay không cải giáo. Muốn kỳ thị chủng tộc, thì phải có một thuyết phân biệt chủng tộc: Dân Đức Quốc Xã moi các sách cũ trong thư viện ra và tim thấy cuốn Espèces de Plantesxuất bản năm 1753 của nhà vạn vật học Thuỵ Điển tên là Linné (1707-1778). Linné phân loại cây cỏ làm 24 giống, vạch những tinh chất đặc biệt của mỗi giống, lập thành một hệ thống tài tình được các nhà khoa học thế giới rất hoan nghênh. Phân loại cây cỏ rồi, ông phân loại tới loài người: “giống Âu da trắng  siêng năng”, “giống Á da vàng dai sức”, “giống Phi da đen  bạc nhược” và “giống Mỹ da đỏ  nóng nảy”.

Thế là thuyết chủng tộc đã phát sinh và những người sau tha hồ mà phân tích, tưởng tượng, chia thêm ra vô số tiểu chủng nữa: giống Âu gồm những tiểu chủng Mông cổ, Thái, Mã Lai… Người ta cố tìm những nét đặc biệt về sắc, tướng của mỗi giống rồi cố giảng rằng những sắc, tướng đó quyết định tính tình, đức tốt, và tật xấu của con người. Cố nhiên, trong các giống người đó, có giống Do Thái và người ta tranh nhau vạch những đức cũng những tật của người Do Thái mà quên rằng thế giới hiện nay nếu còn có một giống Do Thái thì giống đó tất phải là những người Ả Rập sống trên lưu vực sông Euphrate, chứ không phải là những người Do Thái đã nhập tịch Anh, Đức, Ý, Mỹ.., và sống ở London, Berlin, La Mã, New York… vì những người này đã lai cả chục lần rồi, trong huyết quản may lắm là còn giữ được một phần mười máu của tổ tiên họ hồi theo Moïse mà định cư ở Israel.

Và người ta reo mừng rằng đã kiếm được một “căn bản khoa học” cho chủ nghĩa bài xích Do Thái.

Sau thế chiến thứ nhất, Đức Quốc Xã nắm ngay lấy cơ hội, tuyên truyền rằng giống Do Thái có máu quỉ quyệt, phản bội - thì xưa họ chẳng phản Chúa đấy ư? – không khi nào đồng hoá với các dân tộc khác, sống ở xứ nào cũng như bọn người lạ, chỉ tìm cái lợi cho họ mà nhiều khi chống lại chính phủ - thuyết cộng sản chẳng phải là thuyết của Karl-Marx, một tên Do Thái đấy ư? – Vậy để cho họ sống, sẽ có hại cho nền an ninh của Đức, mà một giống thông minh nhất thế giới, anh hùng nhất thế giới, tài giỏi nhất thế giới, cao thượng nhất thế giới sẽ lai bậy bạ mà sa đoạ lần lần mất. Phải tống cổ tụi Do Thái đi, sau khi tịch thu tài sản của chúng; như vậy lợi cho quốc gia biết bao, vì người Do Thái nào mà chẳng có nhiều tải sản: bọn đó là con buôn ham tiền mà keo cú, tích luỹ tiền đã mấy chục đời rồi!
Mới đầu người ta cấm họ hành nghề, rồi người ta cấm họ vào các rạp hát, các thư viện, các viện tàng cổ. Họ vẫn nhẫn nhục ở trong cái xứ mà từ bấy lâu nay họ đã coi là tổ quốc, dù sao như vậy vẫn còn hơn là làm bọn hành khất ở các nước khác. Rồi người ta cấm họ mướn người ở – một giống hạ tiện đâu có quyền mướn một người thuộc giống cao quý nhất thế giới – lại bắt họ phải đính ngôi sao David (3) lên áo để cho mọi người dễ nhận ra họ như nhận tụi cùi, tụi tù nhân. Không ngờ ở thế kỷ chúng ta mà câu tục ngữ Nga này lại đúng đến thế: “ Không ai dám chắc suốt đời không phải làm kẻ ăn mày hoặc kẻ tù tội!”

Từ các nhà bác học tới các giáo sư Đại học, các giám đốc ngân hàng, hễ tổ tiên ba bốn mươi đời là Do Thái, thì cũng đành phải xin tờ hộ chiếu của một nước khác, rồi bỏ hết tài sản lại cho Đức Quốc Xã, xách một va li nhỏ đựng ít quần áo rồi ra đi. Một sản phẩm lạ lùng của thế giới văn minh này là tờ hộ chiếu. Không có tờ đó hộ thân thì có tài đức bực gì cũng bị nhốt khám? Có khi ở trong một xứ, đi từ tỉnh này qua tỉnh khác cũng phải có một tờ hộ thân. Einstein, nhà bác học làm vẻ vang cho cả nhân loại, đã được chính phủ Đức ban cho đủ các ân huệ, dựng một tượng bán thân của ông ở Postdam, tặng ông một dinh thự và một chiếc tàu buồm, gọi là tỏ “lòng quý mến và ngưỡng mộ bất tuyệt” của dân tộc mà rồi ít năm sau, người ta đòi lại tất cả những cái đó, ông sợ, không dám trở về quê quán nữa, trốn ra đi, qua Bỉ, sống lén lút trong một ngôi nhà có cửa song sắt và đêm nào cũng phải có một người lính canh cho ngủ. Ở Bỉ cũng không yên, ông lại phải trốn qua Mỹ, nhập tịch Mỹ làm giáo sư trường Đại học Princeton.

Freud cũng là một bậc thiên tài của nhân loại, đã phải trốn trước Einstein từ năm 1938, hồi 80 tuổi, ông qua ở nhờ nước Anh, gặp văn sĩ Stefan Zweig ở London. Trước kia trong cuốn L’avenir d’ une illusion (Tương lai của một ảo ảnh), Freud đã bảo rằng nhân loại xây dựng được nhiều nền văn minh, nhưng số người văn minh thì thời nào cũng rất ít, và đa số chỉ có cái bề ngoài là văn minh; họ hoảng sợ khi nghĩ tới chuyện giết người, hiếp dâm nhưng rồi chính họ, nếu gặp cơ hội thoả mãn thú tính của họ mà không bị trừng trị thì sẽ không do dự gì cả, thẳng tay làm hại đồng loại bằng mọi phương tiện tàn nhẫn, bỉ ổi, không ngờ mà ngay trong đời ông, ông phải thấy thuyết của ông đúng quá: ông và hàng triệu đồng bào của ông đã là nạn nhân của cái nền văn minh bề ngoài ấy của phương Tây.

Freud chết ở London năm 1936. Ba năm sau, nghe thấy những tin tức rùng rợn về cuộc tàn sát Do Thái ở Trung Âu và Tây Âu, Stefan Zweig âu sầu quá, tự tử sau khi đã để lại cho đời một hồi ký thê thảm nhan đề “Le monde d’hier” (Thế giới hôm qua) trong đó có đoạn chua chát:
“Những cái thảm thương nhất trong bị kịch Do Thái ở thế kỷ XX này là những kẻ bị tai hoạ không thể hiểu nổi ý nghĩa của bi kịch đó; tại sao người ta lại giết họ khi họ không có lỗi gì cả? Thời trung cổ, tổ tiên họ phải đau khổ, nhưng ít nhất cũng hiểu mình đau khổ vì cái gì: vì tín ngưỡng, vì luật trong đạo (…). Và khi người ta liệng họ lên giàn hoả, thì họ ôm Thánh Kinh vào lòng, nhờ nhiệt tâm trong lòng mà chịu được sức nóng của ngọn lửa thiêu họ (…) Nhưng đã từ lâu rồi, những người Do Thái ở thế kỷ XX không còn tín ngưỡng đó nữa, chỉ muốn sáp nhập vào các dân tộc khác (…); đã từ lâu rồi họ thành, những người Pháp, Đức, Anh, Nga, không còn nhiều tính cách Do Thái nữa, thì tại sao người ta lại tàn sát họ, hốt họ như hốt bùn trên đường (…) Tại sao họ phải chịu hoài số kiếp đó? Mà chỉ có riêng họ phải chịu? Người ta tàn sát họ như vậy là có lý do gì không? Có ý nghĩa gì không? Có mục đích gì không? Tại sao?


Chú thích:
Giáo chủ Hồi giáo (570 – 632) hồi xưa quen viết là Mahomet
Theo J. madaule trong Les Juifs et le monde actuel –Flammation – 1963
Ông sanh ở Motel (tỉnh Minsk) trên đất Nga – Có sách viết là Zaim Weizmann.
Vua thứ nhì của Israel, đã thắng dân tô(c Philistin (khoảng 1000 năm trước Tây lịch)